Nguyên tắc vàng
Chất lượng và dịch vụ là sự sống của Vietec
Chỉ có tập thể mới đem lại thành công, cá nhân là vô nghĩa
Định hướng phát triển đến thành công của khách hàng
Quan hệ truyền thống, phát triển bền vướng
Hiểu rõ nhiệm vụ của mình, luôn có mặt khi khách hàng cần
Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
Tư vấn 0902 17 27 17
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
Hỗ trợ 0169 732 6666
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
Sales - 0169 719 6666
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
P. Triển khai 0912 230 820
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
P Triển Khai 0984 361 476
Tư vấn online qua Yahoo Messenger
P. Bảo trì 0989 869 868
Tư vấn online qua Skype
Hỗ trợ 0169 732 6666
Tư vấn online qua Skype
P. Triển khai 0912 230 820
Tư vấn online qua Skype
P Triển Khai 0984 361 476
Tư vấn online qua Skype
P. Bảo trì 0989 869 868


Tiêu chí nào để lựa chọn Slogan?

1. Dễ nhớ
-Dễ nhận ra
-Dễ gợi nhớ
2. Có ý nghĩa
-Có tính mô tả
-Có sức thuyết phục
-Hài hước và hấp dẫn
-Giàu hình dung
3. Dễ bảo hộ
-Về mặt pháp lý
-Về mặt cạnh tranh
4. Dễ thích nghi
-Linh hoạt
-Có thể cập nhật được
5. Có khả năng chuyển đổi
-Trong cùng loại sản phẩm và giữa các sản phẩm với nhau
-Qua biên giới địa lí và văn hóa


Có rất nhiều chuyện hài hước xung quanh đặc tính thứ 5 này, nhưng do chưa tìm ra được nguồn tài liệu đế post lên cho các bạn. Hi vọng sẽ nhanh tìm ra.

Nhiều khi cách nói thẳng, trực tiếp lại không thu hút sự chú ý, gây ấn tượng mạnh bằng cách diễn đạt ẩn dụ, đa nghĩa. Slogan – trong nhiều trường hợp - là dẫn chứng sinh động.

Có lẽ chẳng cần phải điều tra hoặc thống kê cũng thấy được trong hàng ngàn doanh nghiệp chỉ một số ít có slogan được đông đảo người tiêu dùng nhớ đến. Còn đại đa số đã bị chìm ngập, rơi rụng trong cả rừng khẩu hiệu quảng cáo.

Slogan thường được hiểu như một khẩu hiệu, nhưng lại là khẩu hiệu của một doanh nghiệp. Nó là sự tự giới thiệu, tự quảng cáo; là một thông điệp gửi đến đối tượng tiêu dùng đã xác định, dưới hình thức cổ động.

Cùng lúc, nó phải “nói” cho người tiêu dùng biết đặc điểm, ưu điểm của sản phẩm, doanh nghiệp, về những lợi ích và sự hài lòng mà nó mang đến cho khách hàng… (hẳn nhiên không khỏi cường điệu ít nhiều do yêu cầu quảng cáo, tiếp thị). Và tất cả những nội dung ấy lại chỉ được phép gói ghém trong vài từ ngắn ngủi, dễ đọc, dễ nhớ.

Nói cách khác, slogan là một hình thức diễn đạt cô đọng, giàu ý nghĩa và tạo ấn tượng tốt, mạnh mẽ. Dùng rất ít từ để nói được rất nhiều điều. Những yêu cầu ngặt nghèo như vậy đặt người viết slogan trước hai khả năng: hoặc tập trung nhấn mạnh các phẩm chất của một sản phẩm, thương hiệu; hoặc tìm cách vượt ra khỏi những khía cạnh cụ thể của một sản phẩm để nói đến ý nghĩa và các giá trị ngoài vật chất do nó mang lại: niềm thích thú, nỗi ước vọng, say mê, một phong cách sống…

Với trường hợp đầu, người ta thường dùng các cụm từ mang tính khái quát về phẩm chất của một sản phẩm, thương hiệu, kiểu như: “chất lượng cao”, “chất lượng tuyệt hảo”, “uy tín hàng đầu”, “người bạn đáng tin cậy”, “sản phẩm của thời đại”, (của thế kỷ), “bền - đẹp - rẻ”…

Nhưng khi sử dụng cách diễn đạt này người ta sẽ gặp phải nguy cơ trùng lặp, sáo mòn vì những cụm từ có nghĩa chung chung đó có thể dùng cho hầu hết các sản phẩm, thương hiệu và trên thực tế đã có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng, nhiều đến độ nhàm chán.

Không có cá tính, không thể hiện bản sắc riêng, những slogan như vậy không thể “thọ” nổi!

Cách thứ hai đòi hỏi người viết slogan phải rất sáng tạo. Họ không nói thẳng mà thường chọn cách nói gián tiếp, đề cao một cách kín đáo có vẻ như mơ hồ mà lại là khẳng định. Họ không mô tả, xác định trực tiếp mà mở đường cho sự tìm hiểu, khám phá ý nghĩa của slogan mà cũng là của sản phẩm, thương hiệu đó. Và chính quá trình cảm nhận, động não này sẽ khiến câu slogan ngày càng in đậm trong trí người đọc (hay người nghe).

Một trong các phương pháp chính ở đây là “gợi” thay vì “tả thực” - như thuật ngữ của lý luận văn học. “Gợi” bằng cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ, biểu cảm, các cấu trúc từ ngữ đa nghĩa, cách nói bỏ lửng… Thực ra, cách diễn đạt này chẳng mới mẻ gì. Trong thơ ca - đặc biệt là thơ Đường Trung Quốc, thơ Haiku Nhật Bản và ca dao, tục ngữ Việt Nam - ta có thể bắt gặp nhiều dẫn chứng sinh động cho phương pháp này.

Tất nhiên, slogan không thể là sự đánh đố do đó dù lửng lơ, trừu tượng đến đâu, nó vẫn phải gợi nhớ, làm liên tưởng đến nét đặc trưng nào đó của sản phẩm hoặc của doanh nghiệp. Trong thực tế đã có những slogan hay, thường được mọi người nhớ đến. Phân tích các trường hợp này có thể thấy khả năng “gợi” rất lớn của nó.

Triumph chẳng hạn. Nhãn hiệu trang phục lót cao cấp này tung ra câu slogan độc đáo: “Triumph - Thời trang và hơn thế nữa”. Hợp thời trang? Đã đành. Còn “hơn thế nữa” - tức là hơn cả chuyện thời trang? Nhưng đó là gì? Câu bỏ lửng. Nó buộc người ta phải tò mò, tìm cách giải thích, đoán định. Phải chăng slogan muốn nhấn mạnh rằng, Triumph không chỉ là một nhãn hiệu thời trang mà còn là dấu hiệu của người biết cách ăn mặc, của sự sành điệu?

Một trường hợp khác: Yomost (của Dutch Lady). Câu “Một cảm giác rất Yomost” đọc lên nghe lửng lơ, mơ hồ, gợi sự tò mò. Có cả 1.001 cảm giác “Rất Yomost” là cảm giác gì? Đi kèm slogan này còn có cả hình ảnh tĩnh hoặc động thể hiện trạng thái vui tươi, sảng khoái của các bạn trẻ xinh đẹp khi dùng sữa Yomost, như một sự minh họa. Nhưng dù sao, slogan và các hình ảnh này vẫn là một sự để ngỏ cho mọi cảm nhận, giải thích theo chiều hướng tích cực.

Cũng có nhiều trường hợp slogan có dạng cấu trúc khẳng định. Nhưng thật ra, xem xét kỹ về ý nghĩa nội dung thì nó vẫn là một cấu trúc mở, dẫn dắt trí tưởng tượng của người nghe. Chẳng hạn nhãn hiệu Aquafina: “Aquafina - phần tinh khiết nhất của bạn”.

Thay vì nói dài dòng: chất lượng vệ sinh, độ an toàn cao, slogan dùng từ “tinh khiết” - ngắn và chuẩn. Nhưng khả năng gợi lại lớn ở chỗ nó mớ rộng ý nghĩa không chỉ là nước uống mà còn là “phần tinh khiết” của cơ thể con người. Phần tinh khiết đó là gì, người nghe tự tìm cho mình câu giải thích, tuy nhiên không thể không nghĩ yếu tố nước nuôi sống cơ thể.

Câu slogan của S-Fone mới xuất hiện cũng rất ấn tượng: “S-Fone - Nghe là thấy”. Nghe mà thấy được cả những gì người ta nói? Hơi khó hiểu. Nhưng chính điều đó lại gợi sự tò mò, chú ý. Âm thanh được truyền đi rõ mồn một và “nét” đến độ làm cho người nghe có cảm giác hình dung ra ngay từng cử chỉ, trạng thái của người nói. Không cần trực tiếp nói chất lượng cao mà vẫn thể hiện chất lượng dịch vụ. Cấu trúc câu ngắn đến mức tối thiểu, nhịp dằn mạnh, thể hiện sự khẳng định chắc nịch…

Quả thực, trong sáng tạo slogan, nghệ thuật của ngôn từ và hình ảnh giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Nhưng suy cho cùng, đây không chỉ đơn thuần là vấn đề kỹ thuật mà thực ra nó còn tùy thuộc rất nhiều vào mục tiêu, tầm nhìn và cả triết lý của doanh nghiệp.

Một số câu slogan nổi tiếng trên thế giới:

- Harley – Davidson (mô tô phân khối lớn): “Sống để rong ruổi, rong ruổi để sống” (Live to ride, ride to live).
- Philips (sản phẩm điện tử gia dụng): “Hãy làm cho mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn” (Let’s make things better)
- CK (quần jean thời trang): “Hãy là chính mình, dù tốt, dù xấu” (Be yourself, be good, be mad)
- Citibank (dịch vụ ngân hàng 24/24 giờ): “Thành phố (đồng âm với Citi) không bao giờ ngủ” (The City never sleeps)


Slogan - khẩu hiệu thương mại, nguyên nghĩa cổ là tiếng hô trước khi xung trận của những chiến binh Scotland. Ngày nay trong thương mại, slogan được hiểu như là khẩu hiệu thương mại của một công ty. Slogan thường được coi là một phần tài sản vô hình của công ty dù rằng nó chỉ là một câu nói.

Để có được một slogan hay, ngoài việc đầu tư về chất xám còn phải có sự đầu tư về quảng cáo liên tục với những chiến lược dài hạn. Chính vì vậy, khi có được một slogan đứng được trong tâm trí khách hàng, slogan đó đã trở thành một tài sản vô giá được vun đắp bằng thời gian, tiền bạc và uy tín của công ty.

Một slogan hay phải hội tụ được một số yếu tố sau:

Thứ nhất là mục tiêu. Một slogan khi được tung ra phải mang một mục tiêu nhất định và hướng đến mục tiêu đó. Ví như khi Pepsi ra đời thì Coca Cola đã là một người khổng lồ trong ngành giải khát rồi. Muốn phát triển được thì phải có một slogan nhắm đến một mục tiêu là lấy lại được thị phần từ Coca Cola. Hãng nước giải khát Pepsi đã lấy slogan là: “Generation Next” (Thế hệ tiếp nối), ý nói đó là một loại nước uống của thế hệ mới và ngầm ý chê bai đối thủ trực tiếp Coca Cola là loại đồ uống cổ lỗ sĩ. Với slogan hay mang trong mình mục tiêu rõ ràng là đánh vào khách hàng trẻ tuổi, Pepsi đã thu hút được phần đông giới trẻ và vươn vai trở thành một đối thủ đáng gờm của Coca Cola.

Thứ hai là ngắn gọn. Một slogan hay luôn phải là một slogan ngắn gọn, dễ hiểu, dễ đọc. Với nhiệm vụ phải đi vào tiềm thức của khách hàng, không ai đi xây dựng một slogan dài dằng dặc đầy đủ toàn bộ về tính năng, tác dụng, đim ưu việt của sản phẩm cả, bởi khách hàng sẽ chẳng ai bỏ công đi nhớ một slogan dài lõng thõng như vậy. Cà phê Trung Nguyên đã phải bỏ slogan dài cũ: “Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” bằng “Khơi nguồn sáng tạo”. Quả thực slogan sau ngắn gọn, ấn tượng và dễ nhớ hơn nhiều.

Thứ ba là không phản cảm. Slogan phải tuyệt đối tránh những từ ngữ có thể gây phản cảm hoặc xúc phạm đến người khác cho dù đó chị là một bộ phận khách hàng rất nhỏ. Nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh DHL đã từng mắc lỗi này khi tung ra một slogan gây một ấn tượng không tốt: “Đến chậm gậm xương”.

Thứ tư cần nhấn mạnh vào lợi ích sản phẩm. Slogan phải thể hiện được tính năng và lợi ích khi khách hàng sử dụng sản phẩm. Ví như: “Connecting People” (Kết nối mọi người) của hãng điện thoại di động Nokia hay “Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu” của hãng bảo hiểm quốc tế Prudential.

Tuy nhiên những điều kiện trên chỉ là những điều kiện cơ bản. Một slogan thành công phải mang trong mình thông điệp ấn tượngkhơi gợi được trí tưởng tượng của khách hàng về sản phẩm của mình. Hãng đồ thời trang quần áo lót phụ nữ Victoria Secret đã có một slogan rất hay bằng một câu hỏi: “What is sexy?” (Gợi cảm là gì?). Sản phẩm đồ thể thao của tập đoàn Nike cũng được cất cánh cùng với một slogan được đánh giá là thành công nhất mọi thời đại: “Just Do It!” (Hãy làm điều đó!).

Một số công ty nước ta đã có slogan khá thành công như slogan của Công ty Biti’s: “Nâng niu bàn chân Việt”. Tuy nhiên đó còn là số ít. Mong rằng trong tương lai gần, các công ty trong nước sẽ quan tâm nhiều hơn đến những tài sản vô hình của công ty như thương hiệu, logo và dĩ nhiên là cả slogan nữa.

Nguồn: thời báo kinh tế


Phía sau phụ nữ thành đạt là... ?

"Thành đạt” đang là một trong những tiêu chuẩn đánh giá con người hiện đại. Và khi số phụ nữ thành đạt nhiều lên, thì dường như sự thành đạt cũng mang tính nữ nhiều hơn.

"Thành đạt” đang là một trong những tiêu chuẩn đánh giá con người hiện đại. Và khi số phụ nữ thành đạt nhiều lên, thì dường như sự thành đạt cũng mang tính nữ nhiều hơn.

Sự thành đạt, học vấn, khả năng làm chủ cuộc sống của mình… đang là những tiêu chí được người phụ nữ mơ ước và kiêu hãnh nếu đạt được bên cạnh những giá trị truyền thống như gia đình, chồng con. Thậm chí, với nhiều người, cái này đôi khi có thể đánh đổi ngang giá với cái kia mà không ngần ngại.

Đánh giá thấp, dè bỉu, chê bai năng lực của phụ nữ giờ đã là chuyện… “xưa rồi Diễm ơi”. Người phụ nữ đang chứng tỏ rằng, nếu họ có thể vượt qua những đau đớn, thử thách cùng cực với việc sinh nở và nuôi con, thì họ cũng có thể làm tốt những công việc thuộc phần còn lại của thế giới…

Thành đạt sớm

Thành đạt sớm là một thực tế không thể phủ nhận của người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Đa phần những gương mặt thành đạt đều chưa đến tuổi 40. Sắc sảo, thông minh, họ vẫn đang phấn đấu không ngừng trong cuộc cạnh tranh quyết liệt, để nắm những vị trí chủ chốt trong các công ty, doanh nghiệp. Nếu không tự nói, ít người hình dung được họ đang mang trên vai gánh nặng làm vợ, làm mẹ.

Một điều nữa khiến sự thành đạt có vẻ như ngày càng sớm hơn, đó là do người phụ nữ ngày nay giữ được vẻ trẻ trung lâu dài hơn. Họ biết cách phát huy sức mạnh của mình. Nhiều vị nam nhi đã ghen tỵ: “Phụ nữ một khi đã nổi là lên hẳn, lên rất nhanh, bởi họ vừa được ưu tiên vừa có thế mạng là …phụ nữ!”.

Hai vế song hành tạo nên sự thành đạt: nghề nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc, cũng là hai điều kiện của một người “phụ nữ hai giỏi”: Giỏi việc nước, đảm việc nhà. Nhưng không phải cứ hai giỏi là thành đạt. Đứng ở góc độ thành đạt, điều kiện về gia đình đang có vẻ như yếu thế dần. Nhiều cô gái đã đặt sự nghiệp là ưu tiên số một, trước khi nghĩ đến gia đình.

Một thực tế khác: khoảng cách giữa những người phụ nữ thành đạt và bộ phận còn lại của giới nữ ngày một xa hơn. Sự phân hóa diễn ra mạnh hơn khi người phụ nữ bước ra khỏi cánh cổng khép kín của gia đình, để thử sức trong những hoàn cảnh mới. Tuy nhiên, bên cạnh những người thành đạt, tự chủ, vẫn còn những người phụ nữ “sống chung” với cảnh bạo hành, bị ngược đãi.

Thực tế này phần nào tạo nên sự ngại ngần của một bộ phận nữ giới, khiến cái nhìn về hôn nhân gia đình nhuốm chút màu sắc bi quan. Những người phụ nữ vượt qua được con đường phấn đấu khó khăn để thành đạt lên tiếng khẩn thiết đòi quyền sống, quyền bình đẳng. Một bộ phận nữ giới khác cảm thấy mình thua thiệt và cam chịu, thậm chí chấp nhận dùng những đường tắt tủi nhục để… đổi đời.

Băn khoăn tìm kiếm chính mình

Sự phân tuyến khá rõ, đôi khi là trái ngược, giữa môi trường công việc và môi trường gia đình là một thử thách đối với nhiều phụ nữ. Rời cơ quan, người đàn ông có thể thoải mái ngả mình đọc báo hay lai rai với bạn bè. Người phụ nữ thì không. Sau những vật lộn căng thẳng trong công việc, trở về với gia đình là trở về với nhiệm vụ chính, vai trò chính, không thể buông lỏng, lơ là.

Ai trong hai con người đó- con người công việc hay con người gia đình, là con người bản chất của mình? Thương trường, chính trường… tất cả đều là những nơi phải học mới có thể sống phù hợp. Ở vị trí nào thì phải hành xử theo quy tắc ở vị trí đó. Đôi khi phải chấp nhận sống khác mình một chút, về nhà, người ta mong muốn được sống thật, được thoải mái buông bỏ cái mặt nạ phải mang suốt cả ngày.

Nhưng mọi việc không đơn giản. Không gian gia đình có những tiêu chí khắt khe của nó. Nhiều khi người ta- nhất là người phụ nữ- phải nén mình lại để gia đình êm ấm, thuận hòa.

Chẳng thể là cái máy để bấm nút chuyển từ “chế độ làm sếp” sang “chế độ làm vợ”, “chế độ làm dâu”… Vì thế, đôi khi nhầm lẫn giữa các vai trò cũng là chuyện bình thường. Cái tôi chìm khuất sau nhiều vai trò và lâu ngày nhiều khi giật mình tự hỏi: Mình là ai trong những con người ấy, nghĩa vụ ấy? Hay chỉ có mình mới biết mình mà thôi?

Cô đơn hay độc lập cá nhân

Sự thành đạt với sự độc lập như bóng với hình: Độc lập trong suy nghĩ, tự chủ quyết đoán trong quyết định, độc lập trong tài chính… Nghịch lý nằm ở chỗ: Sự độc lập này tương đối nhạy cảm, xét về khía cạnh nào đó, nó gần như không được phép thể hiện, nếu không muốn làm mất đi sự êm ấm của gia đình. Sau sự tươi tắn hào nhoáng bên ngoài, sau những bộ áo váy văn phòng sang trọng và lịch lãm, người phụ nữ được trông đợi phải hoàn thành tốt công việc gia đình, nhu mì, dịu dàng và đáng yêu.

Simone de Beauvoir, nhà nữ quyền học người Pháp, từng có một phát biểu nổi tiếng: “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”. Việc “trở thành phụ nữ” mà bà nói đến ở đây, chính là cái khuôn thước của xã hội dùng để “đo” người phụ nữ. Chậm thay đổi và đầy định kiến, cái khuôn ấy ngày càng chật hẹp và không dễ gì một sớm một chiều mà chuyển được.

Đương đầu với những câu hỏi trực diện như: “Đối với phụ nữ, như thế nào là thành đạt?” Nhiều người vẫn e ngại, vẫn phải viện dẫn một kiểu như “công dung ngôn hạnh” để làm nơi bấu víu. Họ hiểu mỗi người đều phải đương đầu với một thử thách riêng, sự độc lập cá nhân vẫn phải tìm một điểm tựa, kể cả việc phải nương nhờ những vỏ bọc an toàn, cũ kỹ.

Chia sẻ sự độc lập cá nhân đôi khi là một cái giá không dễ trả. Nhưng giữ lấy sự độc lập cá nhân cũng là đồng nghĩa với chấp nhận nỗi cô đơn. Khi được hỏi về điều này, Quỳnh An, một sales manager nổi tiếng bản lĩnh, đang hưởng một mức lương cao ngất với cuộc sống độc thân trong một căn hộ đắt tiền tại TP. HCM đã trả lời thẳng thắn: “Không cần khiêm tốn, tôi tự xếp mình là người thành đạt. Nhưng cũng có khi mệt mỏi trở về nhà sau một cuộc tranh đua quyết liệt, tôi vẫn ước mong mình có một bờ vai để dựa, để có thể quên mình đi và trở lại làm một người đàn bà yếu đuối…”.

Phải chăng phía sau hay phía trước người phụ nữ thành đạt đều là nỗi cô đơn? Như một hình tam giác, càng ở những vị trí cao, càng có ít bạn đồng hành, ít người san sẻ. Sự khắc nghiệt trong chọn lựa “sự nghiệp hay gia đình” dù có được che phủ bởi bao nhiêu mỹ từ, vẫn phảng phất một “nỗi buồn thời đại”.

Nhiều người đã chấp nhận một sự thỏa hiệp cần thiết trong cuộc sống: Sử dụng “kỹ năng mềm mỏng”, “kỹ năng nhường nhịn” là thứ trời ban cho phụ nữ, nén lại những mệt mỏi, mài giũa bớt sự sắc sảo lý trí, nhõng nhẹo một chút, mềm yếu một chút, bớt thông minh đi một chút… Gọi là “diễn” cũng được. Màn “diễn” này chỉ có một diễn viên, không có đạo diễn, sân khấu là cuộc đời. Nhiều người cho rằng, sống như thế là giả tạo, không thật. Nhưng sự chân thực không phải là sự thật thà. Trong trường hợp này, chân thực được hiểu như là “chân thực với chính mình”, chân thực với nguyên tắc cao nhất: yêu quý gia đình mình. Khi yêu quý gia đình mình, tất cả những việc đó không phải là “diễn”.

Tự ý thức về giá trị cá nhân, xây dựng và bảo vệ niềm tin của mình cũng như giữ gìn sự độc lập cá nhân, giữ gìn hình ảnh bản thân, người phụ nữ thành đạt trong xã hội hiện đại đang phải gánh những gánh nặng thực sự. Vẫn biết khả năng che chắn gần như là một với khả năng chịu đựng, vẫn biết bản chất tình yêu là sự hy sinh, nhưng có phải là buồn quanh quẩn không, khi phải đi đến một kết luận rằng đầu tiên người phụ nữ hãy biết hy sinh sự độc lập của bản thân mình?

Theo Phụ nữ


Phụ nữ và Lãnh đạo: Nghệ thuật cân bằng tinh tế?

 - Giữa nam và nữ lãnh đạo có một số sự khác biệt đặc thù trong cách ứng xử. Trong bài viết này, Tiến sĩ Hilary M. Lips - thuộc trường Đại học Radford phác thảo những sự khác biệt này, xác định các cách thức ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, và đề xuất một số giải pháp để tạo ra con đường dễ dàng hơn cho các nhà nữ lãnh đạo.

 Nước Mỹ gần đây đã tiến một bước khá xa trên con đường lựa chọn người phụ nữ đầu tiên tranh cử tổng thổng. Tuy nhiên, trong buổi diễn văn vận động bầu cử của bà Hillary Clinton, thật phi lý khi mọi người tập trung một cách khác thường đến bộ cánh “cổ trễ” mà bà mặc khi đọc diễn văn tại tầng một tòa nhà dành cho Thượng nghị sĩ. Cũng tương tự như những cách tiếp cận truyền thống, chiến dịch của bà là tạo một ấn tượng giới thiệu tính “dễ gần và ấm áp” để cân bằng với “sự mạnh mẽ và từng trải” dường như đặc biệt cần thiết cho một nữ ứng cử viên.

Có vẻ như kịch bản chung cho những người phụ nữ có quyền lực chính trị bị quan sát quá khắt khe và họ dễ sảy chân vi phạm kịch bản đó – khi bị nói rằng quá hung hăng, hay quá nhẹ nhàng, quá mạnh mẽ hay quá dễ dãi, không hấp dẫn chút nào hoặc vẻ ngoài quá hấp dẫn. Có vẻ như những nhà lãnh đạo nữ giới sẽ dễ dàng vi phạm những hệ thống hạn hẹp dành cho họ khi chức phận nữ giới theo văn hóa thường ngày cần ăn khớp với vai trò lãnh đạo.

Khi những nhà lãnh đạo nữ giới phải đối đầu với hai hệ thức trái ngược nhau này, họ liên tục bị đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn đối với những đồng nghiệp nam giới. Đối với nữ lãnh đạo, để họ có thể làm việc hiệu quả trong vị trí đó, cả nữ giới và nam giới cần nhận thức được những kì vọng khác nhau này, nhận biết các phương thức có thể gây ảnh hưởng đến cả người lãnh đạo và cấp dưới, từ đó hành động một cách đúng đắn.

Phản ứng khác nhau với lãnh đạo là phụ nữ hay nam giới

Quyền lực vận hành như là một hệ thống xã hội, kết thành từ vô số những hành vi được duy trì trong hệ thống văn hóa có ảnh hưởng nhất trong xã hội đó. Những hành vi lặp lại này duy trì hệ thống quyền lực bao gồm cả chuẩn mực giao tiếp, sự hiểu biết về những giá trị chung về văn hóa, kì vọng, quy tắc tiêu chuẩn và vai trò cá nhân. Hệ thống xã hội này chuyển hóa theo kì vọng hay hành vi của bất kì một cá nhân riêng lẻ nào và có xu hướng hình thành quyết định, sự tương tác, và mối quan hệ xã hội giữa các cá thể để phù hợp với hệ thống. Những phản hồi với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo được hình thành trong một hệ thống xã hội truyền thống vốn do nam giới thống trị.

Những nhà nghiên cứu đã xác định bốn cách thức chủ yếu mà những người xung quanh phản ứng khác nhau với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo. Những sự phản ứng khác nhau này có vẻ như không xuất phát từ phong cách lãnh đạo khác nhau của hai giới, mà do những động cơ thúc đẩy khác nhau dành cho hai giới. Nữ lãnh đạo thường nhận những phản ứng khác với nam lãnh đạo, bởi những kì vọng đã được định hình từ trước, được hình thành và tán đồng bởi hệ thống xã hội xung quanh, sẽ vô hiệu hóa và phủ nhận những cố gắng của phụ nữ để họ trở nên hiệu quả, quyền lực và có tầm ảnh hưởng.

Người ta kì vọng phụ nữ phải kết hợp khả năng lãnh đạo với sự quan tâm chăm sóc, và sẽ bị ghét nếu như phụ nữ không làm như vậy

Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra từ lâu rằng mọi người nghĩ đến từ “nam giới” khi họ nghĩ đến “lãnh đạo”, và hệ quả này bắt nguồn từ rất nhiều sự phân biệt trong văn hóa. Do sự chênh trong nhận thức về tiêu chuẩn dành cho nữ giới và dành cho vai trò lãnh đạo, phụ nữ thường bị đòi hỏi phải biết mềm mỏng trong phong cách lãnh đạo để dành được sự ủng hộ của người khác. Phụ nữ không biết điều hòa tổ chức của mình với sự quan tâm, thân thiện và ấm áp thì họ có thể bị ghét bỏ và mất tầm ảnh hưởng; nam giới không cần thiết phải hòa nhã khi họ thực thi quyền lực.

Phụ nữ lãnh đạo với phong cách độc đoán sẽ là tâm điểm của những sự phản đối hơn là phụ nữ áp dụng phong cách dân chủ; đàn ông thì có thể chọn phong cách độc đoán mà không bị ảnh hưởng gì, nếu như họ là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Trong một địa hạt rõ ràng dành cho nam giới, nếu phụ nữ thể hiện hay áp dụng phong cách lãnh đạo cứng rắn, họ sẽ không được ủng hộ.

Mọi người thường không nghe hay tuân theo hướng dẫn từ phụ nữ một cách thoải mái như từ nam giới

Mô hình cổ điển cho rằng phụ nữ nói nhiều hơn nam giới đã được chứng minh là sai lầm. Tuy nhiên mọi người vẫn cho rằng khả năng thuyết phục trôi chảy của phụ nữ chẳng chứng minh cho cái gì cả. Và phụ nữ thường cảm thấy họ không được lắng nghe, khi họ phát biểu trong cuộc họp hay những đề xuất của họ bị lờ đi hay bị coi nhẹ - trong khi những câu nói hay đề xuất tương tự như thế từ nam giới lại có ảnh hưởng hơn.

Nói có sách, mách có chứng. Hai nhà nghiên cứu đã thử nghiệm cho phụ nữ và đàn ông điều khiển một nhóm người độ tuổi trung niên bằng cách đưa ra những đề xuất, thậm chí từ ngữ giống nhau. Kết quả là các thành viên trong nhóm phản ứng với nam lãnh đạo với sự tập trung, những cái gật đầu và những nụ cười; họ phản ứng với nữ lãnh đạo là nhìn đi chỗ khác và ngáp ngắn ngáp dài. Hơn nữa, những thành viên trong các nhóm này không hề nhận thức ra rằng mình đang phân biệt đối xử với những người giữ vai trò lãnh đạo là nam giới hay nữ giới. Trường hợp này không chỉ xảy ra khi thí nghiệm, nó chính là đời thường: một nghiên cứu về các cuộc họp nhóm nhỏ trong các tổ chức chỉ ra rằng nữ lãnh đạo thường là mục tiêu của những cảm giác tiêu cực hơn là nam lãnh đạo, thậm chí khi cả hai nhà lãnh đạo đều được coi là có khả năng như nhau.

Phụ nữ tự ứng cử bản thân và thể hiện khả năng của họ chỉ nhận được sự bất đồng

Bởi họ bị nhìn nhận là ít khả năng hơn nam giới, những phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo trong tương lai đôi khi được khuyên là phải tránh thể hiện sự khiêm tốn nữ tính và biết tự tiến cử bản thân, điểm mạnh và thành tích của mình. Tuy nhiên, tự tiến cử bản thân có thể rất nguy hiểm cho phụ nữ. Như đã nói ở trên, phụ nữ mà tự tin và mạnh mẽ hơn thông thường sẽ có nguy cơ không được tán thành.

Nghiên cứu cho thấy khi phụ nữ thể hiện những thành tựu của họ, người nghe sẽ thấy họ có khả năng hơn, nhưng cũng đồng nghĩa họ sẽ phải trả giá là không được ưa thích. Đàn ông tự giới thiệu thành tích của mình không phải đối mặt với thế lưỡng nan này: miễn là họ không nói đi nói lại, tự quảng bá bản thân sẽ làm họ được đánh giá là có khả năng và được ngưỡng mộ.

Hilary M. Lips - Tiến sỹ tại Trường Đại Học Radford
Ngọc Trâm biên dịch


Lãnh đạo trẻ: Gia đình luôn là chỗ dựa về tinh thần?

Lập gia đình từ năm 2006, Nguyễn Huy Cương - Giám đốc trẻ của công ty cổ phần thương mại Viễn Đông hiện đang có một cậu con trai gần 9 tháng tuổi, anh tâm sự: "Với tôi, gia đình luôn là nơi mà tôi muốn trở về nhất sau 12 giờ làm việc mỗi ngày".

Có lẽ, với nhiều người thì một ngày làm việc với khoảng thời gian 8h đồng hồ là đủ, nhưng với Cương, kể từ khi thành lập công ty riêng cho tới nay thì một ngày 24h có khi vẫn còn thiếu với anh. Để công việc tiến triển tốt, ký được nhiều hợp đồng và thêm bạn hàng làm ăn, anh đã dành không ít thời gian và công sức. Mặc dù vậy, Cương vẫn luôn biết cách cân bằng giữa công việc với cuộc sống gia đình. Sau một ngày làm việc mệt mỏi anh luôn muốn trở về nhà để có thể ăn cơm tối với vợ con và người thân. Hai vợ chồng anh thường tâm sự, trao đổi với nhau về công việc, về những vấn đề trong ngày rồi cùng nhau bàn cách giải quyết.

Biết cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình để giữ mãi ngọn lửa hạnh phúc. Ảnh: Corbis

"Kiếm thật nhiều tiền cũng là để phục vụ cho gia đình", anh Đỗ Hoàng Sâm - Giám đốc công ty tin học Mai Hoàng nói vậy. Anh thật may mắn vì có vợ luôn đứng sau ủng hộ và sẻ chia mọi công việc. Từ những ngày đầu cách đây khoảng 11 năm khi anh mới thành lập công ty, khi mà sự nghiệp của anh mới bắt đầu những bước đi đầu tiên, nếu vợ anh không thấu hiểu và đứng bên anh lo toan cho cuộc sống gia đình thì có lẽ anh đã không được như ngày hôm nay. Trong 2 năm đầu tiên ấy, thời gian anh dành cho gia đình gần như không có, rời nhà từ sớm và trở về khi một ngày mới sắp bắt đầu. Với anh đó là quãng thời gian không thể quên bởi cũng chính thời gian ấy anh đã tìm thấy rất nhiều ở vợ mình sự cảm thông và hy sinh.

Giờ đây, khi công việc đã đi vào ổn định, anh càng hiểu giá trị của cuộc sống là khi được ở bên cạnh vợ con và những người thân. Anh chưa bao giờ đặt mục tiêu kiếm tiền lên trên hạnh phúc gia đình. Với anh sự nghiệp là mục tiêu lâu dài và không ngừng, còn gia đình chính là cuộc sống. Anh không muốn các con mình phải thiệt thòi khi bố chúng quá bận mà không có thời gian quan tâm tới chúng. Những đứa trẻ sẽ cảm nhận được tình yêu khi ta dành thời gian chơi đùa và trò chuyện với chúng. Vì lẽ đó, dù có bận tới mấy anh cũng luôn về tới nhà vào khoảng 6 giờ chiều để chơi với các con hoặc đưa các con đi bơi, đi tập thể dục và rồi sau đó cả nhà lại quây quần bên mâm cơm tối mà vợ anh đã chuẩn bị sau mỗi giờ tan sở.

Anh cũng nói rằng, anh không quên bất kỳ một ngày kỷ niệm nào của gia đình như sinh nhật vợ, sinh nhật các con hay kỷ niệm ngày cưới của hai người. Vào mỗi dịp như thế, anh luôn tìm mua những món quà có ý nghĩa hoặc tạo ra điều bất ngờ cho cả nhà. Nụ cười của con trẻ và tình yêu gia đình đã tiếp thêm cho anh sức mạnh và tinh thần trong cuộc sống.

Anh Sâm kể, có một bí quyết để cân bằng giữa công việc và gia đình - đó là làm sao để có thể sắp xếp thời gian một cách hợp lý và cũng phải biết từ chối những lời mời chưa cần thiết. Ở công ty, anh không ôm đồm quá nhiều việc mà anh hướng dẫn và giao bớt việc cho nhân viên cấp dưới của mình để họ cùng học hỏi và chia sẻ. Cũng chính từ đây mà anh có thể có điều kiện dành nhiều thời gian hơn cho mái ấm của mình.

Còn anh Nguyễn Cảnh Thiện, giám đốc một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế xây dựng và nội thất, thì tâm sự : Do tính chất công việc nên không có nhiều thời gian dành cho gia đình. Nhưng cũng giống như nhiều người, anh luôn muốn cuộc sống gia đình của mình có ý nghĩa và hạnh phúc. Anh rất thích tìm tới bố mình để trò chuyện và xin những lời khuyên bổ ích, sao cho công việc vẫn tốt mà gia đình lại luôn êm ấm. Anh cũng thừa nhận đôi lúc do quá mải mê với công việc mà sao nhãng chuyện gia đình – đó là người vợ hiền và đứa con trai kháu khỉnh mới 22 tháng tuổi. Nhưng rồi anh đã ngay lập tức nhận ra điều đó.

Nguyễn Cảnh Thiện kể : "Vợ tôi rất thích hoa, vì vậy, tuần nào tôi cũng mua hoa tặng cô ấy, hay là vào những ngày cuối tuần tôi tự nguyện vào bếp, đứng cạnh cô ấy với vai trò phụ bếp. Cũng có lúc tôi tự nhận phần rửa bát sau bữa ăn. Những việc như thế đã cứu tôi nhiều lần khỏi bị vợ giận khi tôi đi làm về quá muộn".

Theo anh, khi đã có gia đình thì dù ta có là ai cũng cần phải có trách nhiệm với gia đình. Anh nói rất nghiêm túc rằng, nếu như ai đó cảm thấy mình chưa sẵn sàng cho việc này thì hãy lùi việc lập gia đình thêm một thời gian cho tới khi nhận ra điều đó. Nhiều người có quan điểm rằng, đối với đàn ông thì sự nghiệp luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, với anh Thiện, thì nếu ai quan niệm thế chỉ đơn giản là họ chưa sẵn sàng để có một gia đình riêng cho mình.

Về quan điểm này, anh Sâm cho rằng : Sự nghiệp luôn là trăn trở đầu tiên với mỗi người đàn ông. Nhưng sẽ tới một lúc nào đó, người đàn ông sẽ thấy rằng kiếm tiền không phải là công việc quan trọng nhất.

Còn với anh Cương, gia đình luôn là chỗ dựa tốt nhất để anh có thể phát huy sự nghiệp lãnh đạo công ty của mình, và sẽ chẳng có ai muốn làm lãnh đạo để rồi phải về nhà lủi thủi ăn cơm một mình. Anh bày tỏ rất thật lòng ; Nếu không có tình yêu, không có gia đình thì dù ta có là ai đi chăng nữa, cũng là không đủ.

Luôn được sát cánh cùng gia đình trong mọi công việc và trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đối với các anh - những người lãnh đạo, đó mới chính là thành công trong cuộc sống.

Trang Lâm


Ứng xử nơi công sở?

 Người ta thường nói "người với người là bạn". Để ứng xử sao cho vừa lòng mọi người mà không gây ức chế cho bản thân thì bất kỳ ai cũng phải tự rèn luyện cho chính mình, chứ không riêng gì các sếp.

Những bí quyết dưới đây phần nào giúp các sếp nhìn nhận và suy nghĩ lại cách ứng xử của mình với cấp dưới để tránh không khí làm việc nơi công sở trở nên gay gắt, căng thẳng.

1. Tránh "đòn phạt" nặng về kinh tế

Mọi người đều có lòng tự trọng cao và vì thế mà họ cần nhất là sự thoải mái trong công việc, cho dù tính chất của công việc là tốt hay chưa tốt trong mắt lãnh đạo. Mỗi khi cấp dưới của bạn mắc lỗi, sự cảnh cáo mang tính nhắc nhở nhẹ nhàng sẽ hiệu quả hơn nhiều so với cách "đánh vào túi tiền". Hãy ứng xử làm sao để họ cảm thấy "tâm phục, khẩu phục" mỗi khi làm sai điều gì đó.

2. Khen thưởng và ghi nhận chất lượng làm việc

Đây là cách thức quan trọng để động viên cấp dưới, nâng cao hơn nữa chất lượng công việc. Bạn cần dành những lời động viên, khích lệ với cấp dưới của mình và công nhận các hành động, nỗ lực và kết quả làm việc của họ. Khi sự gắng sức của cấp dưới được đền đáp đúng mức, họ sẽ cảm thấy thoải mái, hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Khi đó, bạn đã thể hiện để họ thấy được sự nỗ lực cống hiến bấy lâu của họ đã được ghi nhận.

3. Thái độ lạc quan

Có thể tại một thời điểm nào đó, hoạt động của công ty bạn sẽ nhuốm một màu ảm đạm. Khi đó, để không ảnh hưởng tới thái độ làm việc của cấp dưới bạn cần giấu đi sự lo lắng đó bằng một ánh mắt khích lệ cấp dưới hay một nụ cười thật tươi với đồng nghiệp. Đồng thời, bạn cần chia sẻ những khó khăn đó với cấp dưới, tránh làm cho họ có cảm giác hoang mang và cùng tìm ra những giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp.

4. Nhạy bén trong cách ứng xử

"Đối nhân xử thế" - ai cũng quen với câu nói này và ai cũng cần được đối xử một cách thân thiện. Là một lãnh đạo, khi đó quyết định của bạn ảnh hưởng đến toàn bộ tổ chức. Sự nhạy bén trong ứng xử của các nhà lãnh đạo chỉ cần thể hiện bằng một lời nói ân cần, trìu mến và quan tâm hơn đến cấp dưới quyền của mình.

5. "Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu"

Chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân viên, không nên mất kiên nhẫn khi nghe hay tỏ thái độ nóng lòng. Mỗi người có một nền tảng học vấn và văn hóa khác nhau, do đó, nếu bạn không thật sự lắng nghe và thấu hiểu, có thể bạn đã bỏ lỡ những ý tưởng hay từ nhân viên, góp phần vào việc phát triển doanh nghiệp mình.

Đối với nhân viên, việc lãnh đạo luôn thấu hiểu tâm tư, tình cảm của họ sẽ là một liều thuốc tinh thần để động viên họ cố gắng và tích cực làm việc.

Cuối cùng, hãy luôn nhớ một nguyên tắc rất cơ bản: "Hãy đối xử với người khác như cách bạn muốn người khác đối xử với mình".

Lê My


Nhân lực là tài sản quý giá nhất của công ty?

Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao luôn miệng nói rằng: “Con người là tài sản quan trọng nhất trong tổ chức/công ty của tôi” hoặc “nhân viên luôn là số 1 trong tổ chức của tôi”. Nhưng những lời vàng ý ngọc này đang ngày càng trở lên nhàm chán hơn, không ai còn hứng thú nghe chúng nữa.

Tất nhiên, việc tán dương nhân viên dường như là rất tốt. Nhưng thậm chí khi nền kinh tế vững mạnh, vẫn đâu đó tồn tại một khoảng cách khổng lồ giữa những lời hùng biện và thực tế trong các công ty. Vào thời điểm hiện tại, các công ty đang phải đối mặt với một bài kiểm tra khó khăn để chứng minh tầm quan trọng của nhân viên đối với các công ty là như thế nào.

Thường thì phản ứng đầu tiên của các công ty trước giai đoạn khó khăn đó là giảm chi phí lao động. Họ kỳ vọng rằng việc giảm thiểu biên chế, đóng băng hay giảm tiền lương và thưởng sẽ giúp họ phần nào trong giai đoạn khó khăn này. Điều này có thể là động thái đúng đắn khi nguồn lực kinh tế của con người không phải là nguồn lợi thế cạnh tranh chính. Nhưng đối với những công ty làm việc cần chiều sâu kiến thức, nơi mà các nhân viên được đòi hỏi cần phải tăng thêm giá trị có ý nghĩa cho sản phẩm và dịch vụ, thì dường như việc tập trung vào cắt giảm chi phí lao động cũng chính là cắt giảm những tài sản quý giá của công ty. Thay vào đó, hãy biến khoảng thời gian nền kinh tế lâm vào khủng hoảng thành một cơ hội để dành lấy và làm tăng thêm lợi thế cạnh tranh được xây dựng dựa trên nền tảng con người.

Nền kinh tế trì trệ tạo cơ hội cho những chuyên gia săn đầu người

Khoảng thời gian nền kinh tế lâm vào trạng thái khủng hoảng tạo ra thị trường nhân tài cho người mua cũng chỉ đơn giản như khoảng thời gian này tạo ra một thị trường bất động sản. Các công ty tập trung vào nguồn lực con người nhận ra điều này và coi khủng hoảng như một cơ hội để làm tăng chất lượng của nguồn tài sản quan trọng nhất công ty - nguồn lực con người. Cách thức hiển nhiên nhất đó là họ cố gắng tuyển dụng những cá nhân mà trong giai đoạn nền kinh tế yên bình vượt quá khả năng của họ hoặc rất khó tiếp cận. Những nhân tài này nhìn thấy những đồng nghiệp đang dần bị sa thải và được cấp trên thông báo rằng lương đang bị đóng băng, nên họ cũng không còn mấy mặn mà với công ty nữa và qua đó rất dễ bị “lôi kéo”.

Tuy vậy, không phải cứ trong giai đoạn khó khăn là con người nhất thiết phải chập nhận những lời mời chào rẻ mạt nhất. Họ có thể vẫn muốn tiếp tục bám trụ cho dù công ty đang cực kỳ khủng hoảng bởi vì họ có thâm niên, vị trí và vị thế cao. Do vậy, trừ khi một công ty đang hoạt động tốt trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng, như Google chẳng hạn, công ty nào muốn tận dụng cơ hội thị trường nhân tài này đều cần phải đưa ra mức lương cao hơn, chế độ tốt hơn để tuyển dụng những nhân tài sừng sỏ từ các công ty khác.

Viễn cảnh tuyệt vời nhất đó là, thậm chí trong giai đoạn khủng hoảng công ty vẫn có đủ khả năng để tuyển dụng những nhân tài mới mà không cần phải giảm biên chế nhân viên hiện tại; nhưng nếu không rơi vào trường hợp tuyệt vời này, cũng không có gì là sai khi công ty thực hiện việc giảm biên chế dựa trên kết quả làm việc của các nhân viên hiện tại đồng thời tuyển dụng thêm những nhân tài mới. Nếu quá trình này được thực hiện tốt, nó có thể đồng thời phục vụ việc tăng cường sự tập trung vào kết quả hoạt động và nâng cấp chất xám cho công ty.

Nhưng nếu một tổ chức bắt buộc phải giảm thiểu nhân viên, thậm chí là những nhân viên xuất sắc, vậy họ phải làm sao?. Trong trường hợp này, mục tiêu của công ty nên là giảm thiểu nhân viên theo cách sẽ không làm tổn hại và có thể làm tăng cường danh tiếng của người sử dụng lao động.

Ví dụ như, trong giai đoạn suy thoái của kỷ nguyên dot.com, tập đoàn Cisco đã tiến hành một loạt bước đi nhằm đảm bảo rằng họ vẫn tiếp tục được nhân viên nhìn nhận là một ông chủ tốt mặc dù họ phải giảm thiểu nhân lực. Công ty đã đưa ra quy định ngày nghỉ phép cho một số nhân viên của công ty và đưa ra quy định chi trả một nửa lương cho những công nhân bị sa thải đi làm việc cho những hội từ thiện hoặc những công việc mạo hiểm. Công ty cũng giúp đỡ trợ cấp tiếp tục giáo dục cho những nhân viên cũ của công ty muốn nâng cao kỹ năng hoặc thay đổi nghể nghiệp. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Cisco vượt qua giai đoạn khủng hoảng và bắt đầu tái tuyển dụng, công ty không gặp bất kỳ rắc rối nào và vẫn đủ sức hấp dẫn những nhân tài bậc nhất bởi vì công ty đã thể hiện họ dường như là một nơi rất tốt để làm việc.

Cách tiếp cận của Cisco không phải là hoàn hảo cho mọi công ty, nhưng mỗi công ty cần phải xem xét mức ảnh hưởng mà những hành động cắt giảm chi phí có thể gây tổn hại tới hình ảnh của công ty. Nếu công ty tiến hành không “khéo”, thậm chí một hành động cắt giảm chi phí nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong dài hạn tới công ty.

Cuốn cẩm nang chết người

Cùng xem xét hành động của hãng hàng không Northwest. Gần đây ban quản lý công ty gửi một cuốn sách nhỏ tới các nhân viên về vấn đề sa thải, chỉ cho họ cách thức họ có thể tiết kiệm tiền sau khi bị sa thải. Những lời khuyên của cuốn “101 cách thức tiết kiệm tiền” của Northwest có những chiêu như mua trang sức ở hiệu cầm đồ, lấy những bộ phận của ô tô ở các bãi rác, thời gian tắm ít hơn, và tìm kiếm những thứ có giá trị trong các bãi rác bằng cách lao vào tìm kiếm ở đó!

Nhân viên đã bị tổn thương tinh thần nghiêm trọng sau khi cuốn sách được kỳ vọng là một cuốn cẩm nang được phân phát đi. Ban quản lý đã xin lỗi vì cho phát hành nó, nhưng những tổn thương thì không thể khắc phục được.

Cho tới nay, có rất ít công ty đang phản ứng với tình trạng trì trệ hiện tại của nền kinh tế bằng phương châm nhân viên là tài sản quý giá nhất của công ty. Ngày càng có nhiều công ty báo cáo giảm biên chế và đóng băng tiền lương của nhân viên. Nhưng nếu công ty của bạn muốn biến con người thành tài sản quan trọng nhất, bạn có thể tăng cường sức mạnh của công ty và chứng minh điều bạn mong muốn thực hiện. Vấn đề cốt lõi là, công ty bạn sẽ trở thành kiểu công ty nào? Bạn có tận dụng lợi thế của cơ hội mà cuộc suy thoái kinh tế mang lại để cải thiện, nâng cao hơn nữa năng lực chất xám và những khả năng chiến lược của công ty hay không?

* Edward E. Lawler III là tác giả của cuốn sách "Nhân tài: biến con người thành lợi thế cạnh tranh của bạn", xuất bản tháng 4/2008 và là giáo sư ưu tú thuộc trường kinh doanh Marshall, thuộc đại học Miền nam California.

Edward E Lawler
Mai Hương
Theo Business Week


Ứng xử với đồng nghiệp nơi công sở?

Bạn thử tính xem, một ngày có 24 giờ, và trong 24 giờ đó có bao nhiêu thời gian bạn ở công ty, bao nhiêu thời gian bạn dành cho cá nhân và bao nhiêu thời gian bạn dành cho gia đình. Nếu làm một phép tính nhẩm đơn giản, chắc chắn rằng thời gian bạn gặp gỡ, tiếp xúc với những người ở công ty chiếm phần lớn. Vậy mà trong thực tế, đa số các công ty vẫn tồn tại không ít những hiềm khích, bất bình giữa các đồng nghiệp với nhau.

Điều này không chỉ mang lại không khí làm việc căng thẳng, mệt mỏi mà còn làm ảnh hưởng tới chất lượng công việc của mỗi người. Đối mặt với nhau ít nhất là 8 giờ mỗi ngày, vì vậy, chúng ta hãy tự mình tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp thay vì những mối quan hệ không đáng có nhé.

Dưới đây là một số lời khuyên có thể giúp bạn tạo được những mối quan hệ tốt với đồng nghiệp của mình.

Không đố kỵ với đồng nghiệp

Bạn không nên có bất kỳ biểu hiện nào đố kỵ với mọi người trong cùng công ty, nó sẽ khiến cho bạn luôn có suy nghĩ không tốt về đồng nghiệp của mình, tạo cho bạn khoảng cách và khó hòa đồng với mọi người. Không biết có phải  ngay từ khi sinh ra, tính đố kỵ đã hiển nhiên tồn tại, tùy với mỗi người mà tính đố kỵ sẽ trỗi dậy khác nhau. Khi đồng nghiệp của chúng ta thăng tiến, được ưu ái, nhiều cơ hội phát triển... thì chúng ta thường có biểu hiện đố kỵ, nói xấu.

Nhưng bạn có biết không, tính đố kỵ lúc thì biểu lộ ra mặt, hằm hè, lúc thì âm thầm và day dứt. Nếu không kìm nén và gạt bỏ sự đố kỵ đó thì bạn sẽ là người đầu tiên chịu khổ cùng nó, hãy biết chấp nhận thành công của người khác với thái độ chia sẻ và thật lòng. Có một câu nói rằng: "Yêu người ta quá làm khổ người ta, ngược lại, ghét người ta quá sẽ làm khổ chính mình", hãy kìm nén và "thuần hóa" tính đố kỵ của bạn để có được sự thoải mái và thiện cảm từ đồng nghiệp của mình.

Hạn chế nhờ vả từ những việc nhỏ nhặt nhất

Hãy đặt bạn vào vị trí của một người luôn bị đồng nghiệp của mình nhờ vả hết việc này đến việc khác. Tất nhiên, đôi khi chúng ta phải nhờ vào sự trợ giúp của mọi người trong công ty, nhưng tất cả đều cần có giới hạn, nếu quá thường xuyên ỷ lại, trông chờ vào người khác thì thật là không nên. Điều đó sẽ khiến cho đồng nghiệp của bạn thấy khó chịu, có ấn tượng không tốt về bạn, dù họ có nói ra hay không. Bạn hãy tự làm tất cả cho mình nếu có thể.

Không tỏ ra quá thân thiện với sếp

Lấy lòng sếp bằng cách hoàn thành tốt công việc và bằng năng lực của mình là điều cần thiết. Nhưng nếu dùng "thủ đoạn" lấy lòng sếp, xu nịnh, luồn cúi thì sẽ làm cho đồng nghiệp của bạn có những ý nghĩ tiêu cực về bạn mà thôi.  Bạn cũng nhớ rằng, đừng mang mối quan hệ cá nhân với sếp vào giải quyết những mâu thuẫn, bất bình của bạn với đồng nghiệp nếu có. Và tốt nhất, nên giữ khoảng cách đúng mực trong mối quan hệ giữa sếp và nhân viên trong công việc.

Hãy nghĩ trước khi nói

Nếu bạn đã trót hứa với đồng nghiệp của mình về việc gì đó thì nên giữ lời hứa và thực hiện đúng như những gì bạn đã nói, dù trong mối quan hệ công việc hay cá nhân. Bất kỳ trong việc gì cũng không nên chỉ biết nói mà không biết làm. Không chỉ trích đồng nghiệp của mình khi họ làm sai hoặc không làm tốt một việc gì đó trong công ty. Hãy nhớ rằng, con người cũng có lúc mắc sai lầm, và nếu ở cương vị của bạn, bạn có thể làm tốt hơn đồng nghiệp của mình không?

Trốn tránh trách nhiệm

Có rất nhiều mối quan hệ đồng nghiệp vẫn tốt đẹp cho tới khi công việc sai sót, gặp sự cố không lường trước được. Lúc này ai cũng sợ phải nhận trách nhiệm về mình, phần lớn tất cả mọi người đều e ngại, né tránh trách nhiệm, tìm cách quy tội cho người khác nhằm lấy lòng sếp. Và kết quả là họ sẽ bị đồng nghiệp xa lánh, trở thành người cô độc trong một tập thể. Bạn hãy biết nhận trách nhiệm khi đó là sai sót của bạn, khi bạn chưa thực sự làm tốt công việc và làm đúng nhiệm vụ của mình. Hãy nghĩ rằng đó là một thử thách và chỉ khi vượt qua được thử thách bạn mới cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa.

Không tự biến mình thành kẻ ba hoa, khoe khoang

Nếu bạn may mắn là người tài giỏi, nhiều cơ hội thăng tiến trong công việc, cuộc sống luôn thuận lợi, gia đình hạnh phúc thì bạn hãy nhớ rằng, không phải ai cũng được như bạn, bạn không nên mang toàn bộ những chuyện đó nói đi nói lại, khoe khoang với đồng nghiệp trong công ty nhất là những đồng nghiệp không được may mắn như bạn. Nếu bạn muốn đồng nghiệp chia sẻ với mình thì hãy có những cách thông minh để không khiến họ hiểu lầm, không gây tổn thương cho họ.

Bạn cũng đừng bao giờ khuếch đại quá đáng những câu chuyện của bạn, không ba hoa, bốc phét khi bạn chưa thực sự hiểu vấn đề hoặc khi chúng không nằm trong tầm tay của bạn.

Không lôi kéo, bè phái nơi công sở

Bạn hãy nhớ rằng, điều tối kỵ nơi công sở và cũng là điều khó tránh nhất tại các công ty đó là nạn bè phái, "buôn chuyện" và nói xấu sau lưng. Bạn có nghĩ rằng nếu mình làm như vậy với đồng nghiệp của mình thì cũng có lúc bạn bị đồng nghiệp đối xử lại như những gì bạn đã làm. Đó là một tính xấu cần phải tránh, bạn nên đối xử tốt và quan tâm tới mọi người một cách chân thành, không lôi kéo người khác cùng moi móc, nói xấu hay "chọc ngoáy" vào chuyện riêng tư, khuyết điểm của bất kỳ đồng nghiệp nào.

Nếu bạn thấy một ai đó có khuyển điểm, hoặc sai sót, hãy khéo léo và nhẹ nhàng góp ý riêng cho người đó, không nên có hành động bất nhã với đồng nghiệp của mình, hãy chứng tỏ bạn là một người thân thiện và thông minh.

Còn nhiều nữa những kỹ năng cần thiết để gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp không chỉ trong công sở mà còn trong cuộc sống. Và xin trích một câu ngạn ngữ tôi đã từng đọc được ở đâu đó: "Đừng bao giờ để lại ngày mai những gì bạn có thể làm hôm nay". Hãy bắt đầu những ngày mới hạnh phúc bằng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người ngay từ hôm nay.

Thanh Trang


Sau khi thăng chức?

  - Sau nhiều năm chứng tỏ khả năng chuyên môn và sự tận tụy của mình với công việc, bạn được thăng chức một cách xứng đáng. Thăng chức hẳn là một điều hay nhưng nếu bạn không có những quyết sách hợp lý, việc thăng chức thậm chí còn là gánh nặng. Còn gì đáng sợ hơn khi bỗng chốc bạn lặn ngụp giữa rất nhiều việc khác nhau ở cương vị mới: đảm bảo tiến độ công việc cho cả nhóm, đáp ứng những chỉ thị riêng của cấp trên, quan tâm đến từng nhân viên dưới quyền…

Có những điều bạn cần thực hiện nếu muốn giữ vững chức vụ hiện tại và vững vàng với những bước tiến sau này.

Thứ nhất, về nhận thức, bạn cần phải hiểu rằng mặt sau của việc thăng tiến là sự cô đơn. Bạn phải chịu trách nhiệm một cách độc lập hơn, sẽ có nhiều người đồng nghiệp cũ trước là bạn bè nay là cấp dưới của bạn. Dù thế nào, ứng xử giữa hai bên sẽ có phần xa cách. Hãy chấp nhận điều đó và làm chủ cảm xúc của mình để có thể cư xử đúng hoàn cảnh: trong công việc chung thì công minh, quan hệ thường ngày thân mật điềm tĩnh.

Thứ hai, nhìn mọi việc với góc nhìn rộng hơn. Mỗi người trong công ty đều có những vai trò khác nhau, làm lãnh đạo cần có tầm nhìn bao quát, nhìn nhận sự việc trong những mối quan hệ biến đổi. Ban đầu, bạn sẽ mất nhiều thời gian để làm chủ tình hình. Hãy suy nghĩ cân nhắc bất cứ lúc nào có thể. Tránh việc tập trung vào chuyên môn quá nhiều mà hết thời gian suy nghĩ đến việc điều hành chung, đây mới là nhiệm vụ chính ở cương vị mới.

Thứ ba, luôn đề cao tính mục đích. Hãy vì hiệu quả công việc chung trước tiên. Bạn hãy luôn đặt cho mình câu hỏi, bạn đang làm vì điều gì, làm thế nào để đạt được mục tiêu đó tốt nhất, điều gì cản trở bạn? Khi là người đứng mũi chịu sao, điều tiếng đôi lúc không tránh khỏi, bạn đã chuẩn bị đối mặt với thách thức như thế nào. Những ai bạn cần nghe, những ai cần bỏ qua. Hãy xuất phát từ lợi ích chung để trả lời các câu hỏi đó.

Thứ tư, hãy quan tâm đến gia đình nhiều nhất có thể. Gia đình không phải là người đầu tiên hưởng lợi khi bạn ở vụ trí lãnh đạo nhưng lại là những người đầu tiên thiệt thòi khi bạn luôn vắng nhà. Đừng trút lên những người thân những khó khăn trong công việc, họ có thể không hiểu gì nhiều để bạn chia sẻ, ngược lại cả hai bên đều thấy căng thẳng. Hãy dành cho gia đình khoảng thời gian quan tâm nhất định, tránh tối đa việc mang công việc về nhà.

Thứ năm, tìm đúng người. Yếu tố quyết định thành công của nhà lãnh đạo chính là thuật dùng người. Chọn người theo nguyên tắc đúng sở trường kèm theo đam mê, có như thế mới đảm bảo thành công cuối cùng của công việc. Khi đã chọn được rồi nên đặt niềm tin vào họ, đúng theo phương châm “đã dùng thì tin, không tin không dùng”. Nếu mỗi lần bạn được sếp khen mà đã thấy hài lòng luôn là chưa đủ, hãy làm sao để cả nhóm của bạn đều hoàn thành tốt công việc của mình. Đó mới là lời khen thực sự dành cho nhà lãnh đạo.

Thứ sáu, quan tâm đến cảm xúc. Điều này khác với làm việc theo cảm tính hay thiếu kiềm chế cảm xúc. Cần nhìn nhận, công sở không phải là nơi tập hợp những cái máy làm việc. Hãy tôn trọng và tạo điều kiện tối đa cho những cá tính sáng tạo của mỗi nhân viên đồng thời cũng cần tìm hiểu những thói quen của cấp trên. Việc đón ý mỗi người để công việc tiến triển thuận lợi là lối quản lý linh hoạt phù hợp với các công sở phương Đông.

Thứ sáu, không kết luận cực đoan. Quan niệm cũ cho rằng người lãnh đạo luôn cần có phán xét đúng sai rõ ràng thì mới tạo được niềm tin nơi cấp dưới. Nhưng đến ngày nay, quan niệm đó đã thay đổi. Lãnh đạo không phải là người quyết định mà là người gợi mở, định hướng và giải quyết khó khăn. Người lãnh đạo phải học cách lắng nghe nhiều hơn, trở thành cầu nối giữa công việc và nhân viên, giữa cấp trên và cấp dưới. Phản ứng linh hoạt trước mỗi tình huống là bí quyết không thể thiếu để đi tới thành công.

Mỹ Trang
Theo Job-sky


Bạn sẽ làm gì để ghi điểm với sếp?

 Là nhân viên, chắc hẳn bạn luôn muốn tạo được ấn tượng tốt đẹp với sếp. Bạn muốn được sếp đánh giá cao và tin tưởng, từ đó tạo thuận lợi cho bạn trong công việc và luôn được sự ủng hộ của sếp. Vậy bạn đã từng nghĩ mình phải làm thế nào chưa? Bạn sẽ chọn những việc làm nào trong một số gợi ý dưới đây?

1. Đừng hỏi sếp những câu hỏi mà bạn có thể trả lời

Bạn có nghĩ rằng sếp mình thích trả lời những câu hỏi mà chỉ cần suy nghĩ kỹ là bạn sẽ biết câu trả lời không? Hãy động não và chắc chắn rằng mình đã tìm hiểu kỹ vấn đề trước khi đặt câu hỏi với sếp. Đừng yêu cầu sếp tìm giải pháp cho bạn, mà hãy trình sếp những khả năng có thể. Vị sếp nào cũng muốn nhân viên của mình có khả năng làm việc độc lập, và họ sẽ không đánh giá cao những nhân viên lười suy nghĩ.

2. Luôn hoàn thành công việc được giao

Sếp nào cũng muốn nhân viên của mình hoàn thành tốt công việc mà họ được giao đúng thời hạn. Bạn hãy nỗ lực và cố gắng trong công việc để chứng tỏ bản thân và khả năng làm việc, luôn sẵn sàng đáp ứng công việc, nhạy cảm với công việc, xử lý tốt những tình huống phát sinh. Nếu gặp khó khăn mà bạn biết cách vượt qua để làm tốt hơn thì chắc chắn rằng sếp của bạn không thể không ghi nhận những gì bạn đã làm.

3. Cố gắng hiểu sếp

Dì là sếp, họ cũng như bạn thôi, cũng muốn có người hiểu, chia sẻ và cảm thông với mình trong công việc. Là nhân viên, bạn cũng nên quan tâm tới những điều tưởng như không liên quan gì tới công việc như sở thích của sếp, và nếu nắm bắt được điều này thì cơ hội ghi điểm với sếp đã đến với bạn. Ngoài ra, bạn cũng nên tìm hiểu những khó khăn trong công việc của sếp để cùng chia sẻ, cảm thông với sếp, đừng lúc nào cũng phàn nàn thế này thế kia. Bạn hãy góp ý và thật lòng với sếp khi có những khúc mắc, bất bình hay thậm chí những gì bạn cho là sếp đã sai. Hãy thẳng thắn với sếp và đừng để những chuyện nhỏ nhặt ảnh hưởng tới mối quan hệ này.

4. Nhận khuyết điểm khi mắc lỗi

Trong cuộc sống hàng ngày, không phải ai và lúc nào cũng hoàn hảo, và trong công việc cũng vậy, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc mắc lỗi trong công việc. Chỉ cần bạn thể hiện như thế nào và biết nhận khuyết điểm thì chắc chắn sếp sẽ đánh giá cao tính trung thực của bạn. "Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại", sếp của bạn cũng vậy, những gì bạn học được qua mỗi lần sai lầm mới là điều đáng quan tâm.

5. Làm nhiều hơn việc bạn phải làm

Làm tốt những việc được giao là công việc và trách nhiệm của bạn, nhưng để sếp đánh giá cao khả năng làm việc và thích nghi trong công việc thì ngoài việc của mình, bạn nên sẵn sàng giúp đỡ và chia sẻ công việc với các đồng nghiệp, sẵn sàng nhận việc ngoài giờ khi có thể, hãy thử sức với những thách thức mới để có được sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Bạn hãy thực hiện và bắt tay vào làm bất cứ việc gì sếp giao, đừng than vãn về những khó khăn với sếp trước khi chưa bắt đầu. Và nhớ là đừng bao giờ nói rằng: "Đó không phải là việc của tôi".

6. Tôn trọng sếp

Trong công ty, bạn nên hiểu ai là cấp trên, ai là người có quyền điều hành và quản lý công ty. Bạn cần phân biệt rõ ràng cách cư xử của bạn với sếp nhằm thể hiện sự tôn trọng. Mặc dù, bạn có quan hệ thân thiết với sếp như thế nào chăng nữa, thì trong công ty, đó cũng là mối quan hệ giữa sếp và nhân viên. Bạn sẽ bị mang tiếng là "nịnh hót"  hay lợi dụng sự ưu ái của sếp để mưu lợi cá nhân. Hãy giữ đúng khoảng cách cần thiết với sếp để tạo được ấn tượng tốt trong mắt đồng nghiệp và trong suy nghĩ của sếp.

7. Làm chủ cảm xúc của bạn

Nóng nảy quá đôi khi để lại ấn tượng không tốt và gây bất lợi cho bạn trong công việc, trong mối quan hệ với sếp, với đồng nghiệp. Cố gắng tránh tranh luận với sếp khi đang tức giận, hãy đợi tới khi bạn tự trấn an tinh thần, thoát khỏi mọi sự chi phối và biết mình cần phải làm gì thì hãy tới gặp sếp. Biết điều khiển cảm xúc sẽ giúp bạn có những mối liên hệ tốt với mọi người, hòa hợp với đồng nghiệp và được lòng sếp. Điều này sẽ giúp bạn thành công hơn trong công việc của mình.

Trên đây chỉ là một số gợi ý để giúp bạn tạo được những ấn tượng tốt và ghi điểm với sếp. Để có thể thành công trên con đường sự nghiệp và có mối quan hệ tốt với sếp và đồng nghiệp trong công ty, bạn hãy tự đúc kết cho mình những kỹ năng cần thiết từ sự trải nghiệm của bản thân.

Thanh Trang


Bạn sẽ làm gì khi là sếp?

Bạn đang là nhân viên, bạn làm việc rất nghiêm túc và có trách nhiệm. Và bạn hãy thống kê lại xem, là nhân viên, bạn mong muốn điều gì ở sếp của mình và nếu là sếp, bạn sẽ làm gì?

- Tạo môi trường làm việc thân thiện: Bằng khả năng lãnh đạo của mình, bạn tạo ra một môi trường làm việc đoàn kết, gắn bó các thành viên trong công ty với nhau, cùng hợp lực đưa công ty hướng đến những mục tiêu phía trước. Trong không khí làm việc thân thiện, mọi người sẽ cảm thấy thoải mái và muốn gắn bó lâu dài với công ty, cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự phát triển chung

- Luôn đặt công việc lên hàng đầu: Dù thế nào đi nữa, với bạn, công việc bao giờ cũng được ưu tiên đầu tiên. Với bất kỳ lý do nào mà nhân viên của bạn không hoàn thành công việc thì sẽ có mức xử phạt riêng cho từng đối tượng, từng trường hợp. Bạn không thiên vị hay bất công với bất kỳ một nhân viên nào và chỉ đánh giá năng lực của nhân viên dựa trên kết quả của công việc.

- Luôn lắng nghe: Bạn tỏ ra là một người luôn biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến từ mọi người trong công ty, quan sát, động viên và giúp đỡ cấp dưới của mình nếu họ có gặp khó khăn trong mọi tình huống nếu có thể. Đánh giá đúng năng lực của từng nhân viên, tìm hiểu tâm tư và nguyện vọng của họ, tạo điều kiện cho họ phấn đấu và xây dựng vì sự nghiệp chung.

- Chọn người giao việc: Vì muốn công việc tiến triển tốt nên hễ ai làm tốt, hoàn thành công việc xuất sắc là bạn cứ giao hết việc cho người đó. Bạn luôn ép những người này phải làm việc trong tình trạng căng thẳng, quá tải vì công việc. Còn lại những nhân viên khác thì luôn nhàn rỗi, không có việc để làm, và họ cũng không có khả năng để tự "bơi". Lúc này, trong công ty của bạn sẽ xuất hiện những hiện tượng đố kỵ vì người thì làm nhiều, người thì chẳng làm gì mà lương, thưởng thì đều hưởng như nhau. Mặc dù các nhân viên sẽ không nói thẳng ra nhưng cũng từ đó mà gây ra rạn nứt trong nội bộ công ty, dẫn tới sự mất đoàn kết, và cuối cùng là ảnh hưởng tới chính công ty của bạn.

- Công bằng với mọi người: Bạn không bao giờ để bụng những chuyện riêng tư hay vì thế mà gây áp lực trong công việc một ai đó. Bạn cũng không đưa tình cảm riêng tư vào công việc chung của công ty, để tránh những hiềm khích không đáng có từ nội bộ nhân viên và cũng để nhận được sự tôn trọng từ phía nhân viên của mình. Bạn đánh giá công việc của nhân viên qua những gì họ đã làm dựa trên thỏa thuận đã trao đổi chứ không dùng cách đánh giá riêng của mình mà ưu ái người này hay ghét bỏ người kia.

- Luôn chân thành: Bằng những lời động viên, những lời khen hoặc cả những lời góp ý của bạn cho mỗi nhân viên khi họ hoàn thành tốt công việc hay khi họ mắc lỗi trong công việc. Ngay cả trong cuộc sống cá nhân của họ, nếu bạn biết quan tâm, thăm hỏi đúng lúc thì đó sẽ là sợi dây thắt chặt thêm tình cảm giữa bạn và nhân viên. Nhưng bạn hãy nhớ rằng, tất cả phải xuất phát từ lòng chân thành của bạn đấy nhé, nếu không những gì bạn làm sẽ không có ý nghĩa, thậm chí là phản tác dụng.

- Tuân thủ quy định và nguyên tắc đề ra: Bạn là người đề ra quy định hay nguyên tắc cho nhân viên của mình, và bạn cũng là người đầu tiên thực hiện, tuân thủ những quy định đó. Bạn biết rằng, để nhân viên noi gương và làm tốt thì mình phải là người làm gương, nếu không đó chỉ là những lý thuyết suông mà thôi.

- Hòa đồng với mọi người: Bạn thường xuyên tham gia các buổi giao lưu, sinh hoạt tập thể hay vui chơi ăn uống do công ty chức. Bạn tạo ấn tượng tốt với các nhân viên bằng hình ảnh một vị sếp thân thiện, hòa đồng, bạn biết cách cư xử đúng lúc và thích hợp trong những buổi họp mặt đó. Và không chỉ có vậy, qua những buổi gặp mặt, bạn sẽ có điều kiện gần gũi và hiểu nhân viên của mình hơn. Nhân viên của bạn cũng có thể giãi bày những khó khăn trong công việc và sẻ chia cùng bạn.

Theo bạn, từng đó việc có phải là quá nhiều khi bạn là sếp?

Trang Lâm


Lựa chọn CEO – làm sao để không “giao trứng cho ác”?

 - Quá trình tuyển dụng một CEO vốn chứa đựng nhiều rủi ro, nhưng mọi người thường không mấy quan tâm và hiểu rõ về quy trình này. Vậy làm sao để công ty không bị rơi vào tình trạng “giao trứng cho ác”?

Dưới đây là một số những kinh nghiệm mà không một hội đồng quản trị nào có thể bỏ qua nếu muốn chắc chắn có một quy trình tuyển chọn thành công:

1. Tìm người trong nội bộ công ty:

Nguồn ứng cử viên tốt nhất chính là những ứng viên trong nội bộ của công ty. Hội đồng quản trị cần phải xây dựng một chương trình quản lý phát triển tập trung vào ba bậc quản lý hàng đầu: Theo dõi nhiệm vụ của ứng cử viên, xác định chính xác nhu cầu phát triển của họ, và xây dựng con đường sự nghiệp để họ chuẩn bị cho trách nhiệm nặng nề hơn khi đã trở thành một CEO. Hàng năm, phải tiến hành rà soát lại chương trình này.

Điểm quan trọng trước tiên đó là cần phải bắt đầu chương trình tuyển chọn này bốn năm trước khi vị CEO đương nhiệm từ chức theo đúng kế hoạch. Rà soát và thử thách năng lực của các ứng cử viên trong suốt giai đoạn này để có thể tìm ra một vài ứng cử viên đủ khả năng, đủ năng lực đảm nhiệm vị trí mới, chứ không chỉ một người đang ngầm được lựa chọn để kế vị.

Tiếp theo, cần xây dựng kế hoạch để có thể hiểu rõ hơn về mọi mặt của các ứng cử viên thông qua những buổi gặp mặt, trao đổi cả chính thức và không chính thức. Yêu cầu họ thực hiện các bài thuyểt trình trong các buổi họp của Hội đồng quản trị. Nói chuyện tán gẫu với họ trong các bữa ăn tối hay ăn trưa. Đánh giá xem họ quan hệ với các đồng nghiệp như thế nào.

2. Chuẩn bị cho sự từ chức đột ngột của CEO đương nhiệm

 Mỗi năm, hãy đề nghị CEO đương nhiệm chỉ định một ai đó theo ông ta là có đủ khả năng đảm nhiệm cương vị lãnh đạo trong trường hợp cần thiết. Nếu không có cá nhân nào có đủ khả năng thích hợp cho vị trí, hãy chuẩn bị phương án sử dụng một CEO tạm thời, thông thường trong trường hợp này nên lựa chọn một vị quản lý dày dạn kinh nghiệm để có thể đảm nhiệm vị trí này trong dài hạn, dù là tạm thời.  

3. Hiểu rõ những phẩm chất cần thiết của một CEO

Đa phần các ứng cử viên đều là người đứng đầu các phòng ban hay chi nhánh của công ty. Tuy vậy, họ chưa bao giờ phải thể hiện một định hướng chiến lược cho toàn thể công ty, thể hiện bản lĩnh nhất quán và chắc chắn trước các thành viên hội đồng quản trị, hoặc phải tự mình đưa ra quyết định. Đây là những phẩm chất mà một CEO thực thụ cần phải có.

4. Cân nhắc thật kỹ khi quyết định đưa “người ngoài” nắm giữ vị trí này

 Nếu theo đúng kế hoạch thì quá trình tuyển chọn qua rất nhiều năm của công ty nhất định sẽ tìm ra được những ứng cử viên có đủ khả năng đảm nhiệm vị trí quan trọng này. Nhưng nếu quá trình này gặp trục trặc, bạn có thể sẽ phải tìm đến những ứng cử viên từ bên ngoài công ty.

Đôi khi chính “người ngoài” lại là người thích hợp nhất có đủ năng lực đưa ra những thay đổi cần thiết để tìm ra những chuyển đổi trong cạnh tranh, công nghệ và thị trường. Tuy vậy, họ cũng có thể chính là tác nhân gây ra chảy máu chất xám trong công ty. Để tránh "cú sốc" có thể xảy ra đối với các nhân viên trong công ty khi buộc phải đưa người ngoài lên ngôi, định kỳ hãy thực hiện chương trình giới thiệu một vài những tài năng bên ngoài cho ban quản trị công ty trước khi CEO đương nhiệm từ chức.

5. Không nên phó thác hoàn toàn cho các công ty tuyển dụng


Bí quyết trở thành người lãnh đạo tuyệt vời?

Dưới đây là 10 lời khuyên bạn nên thực hiện để có thể trở thành một nhà lãnh đạo ngày một hiệu quả hơn. Hãy chọn một trong số đó. Ứng dụng ngay hôm nay. Những điều còn lại bạn sẽ từ từ thực hiện từng ngày. Chắc chắn bạn sẽ trở thành một người lãnh đạo tốt hơn, hiệu quả hơn trong vòng hai tuần. 

1.Lựa chọn những người tốt nhất

Với tư cách là một nhà quản lý, bạn phải làm tốt mọi việc như mọi người trong nhóm của bạn. Vì vậy, hãy tạo cho mình cơ hội thành công hơn bằng cách lựa chọn những người tốt nhất ngay từ ban đầu.

Bạn nên tìm đọc Cuốn “Những câu hỏi để hỏi cho phỏng vấn xin việc” (Job Interview Questions to AsK) để học hỏi thêm cách tuyển dụng những ứng viên tài năng cho công việc. 

2.Hãy là người khuyến khích           

Mọi việc chúng ta làm vì lý do đơn giản là chúng ta muốn. Đôi khi, chúng ta muốn làm chỉ vì kết quả của việc không muốn đó sẽ khiến ta không hài lòng. Tuy nhiên, hầu hết thời gian mà chúng ta dành để làm mọi việc bởi những điều mà ta muốn tránh đi.

Không có sự khác biệt nào trong công việc, người làm việc tốt vì thù lao xứng đáng, vì thân thế hoặc vì một sự công nhận nào đó. Trái lại, những công việc không mấy tốt đẹp phục vụ cho mục đích ngồi chơi xơi nước mà vẫn có tiền. Người lao động cố gắng làm việc chẳ chỉ để muốn gây ấn tượng với ai đó. Vì thế, để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn, hãy chỉ ra những điều mà họ muốn và bạn sẽ đáp ứng họ như thế nào để làm những  việc mà bạn muốn.

3.Xây dựng nhóm làm việc của bạn

Sẽ không thực sự đầy đủ để nói rằng thúc đẩy nhân viên để đạt hiệu quả công việc

Tất cả nhân viên đều làm việc với nhau trong cùng một nhóm để đạt được mục tiêu của cả nhóm. Phải gạt bỏ cái tôi cá nhân. Hòa mình vào công việc chung của toàn nhóm.

4.Hãy là lãnh đạo chứ không chỉ là người quản lý

Thực tế bạn đã tạo dựng một nhóm làm việc hiệu quả từ những nhân viên tốt nhất hiện thời. Bạn đã thúc đẩy họ đạt được năng suất cao nhất. Vậy điều gì còn thiếu? Thúc đẩy một nhóm làm việc sẽ trở nên vô giá trị nếu bạn không vạch ra một phương hướng nhất định; hay bạn không lái nhân viên của bạn theo mục đích đã đề ra. Nó chính là khả năng để lãnh đạo những người khác để làm nên một người quản lý thực sự khác biệt với những người cùng địa vị. Hãy nhớ rằng: trong một tổ chức, người lãnh đạo có thể ở trong các phòng ban, có thể là một ai đó trong số nhân viên, các cấp. Tại sao người đó không phải là bạn?

5. Hoàn thiện khả năng Truyền đạt

Truyền đạt được coi là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của người làm công tác quản lý. Mọi thứ sẽ phụ thuộc vào điều này. Chắc chắn bạn sẽ không thể trở thành người chỉ huy nếu như bạn không thể truyền đạt được tầm nhìn của mình. Sẽ là vô hữu hiệu khi bạn khuyến khích nhân viên của mình mà họ lại không hiểu những gì bạn phát ngôn. Bạn hoàn toàn có thể hoàn thiện kỹ năng này bằng việc luyện tập qua các tình huống thực tế hàng ngày.

6.Học cách quản lý ngân sách

Một công ty muốn kinh doanh dài lâu cần phải trường vốn. Điều đó có nghĩa, bạn sẽ phải cân bằng giữa đầu vào và đầu ra, chi phải ít hơn doanh thu. Căn cứ vào vai trò và trách nhiệm của bản thân trong tổ chức, bạn sẽ có tầm ảnh hưởng ở một quy mô nào đó, và bạn phải hiểu được điều này. Bạn sẽ là người hỗ trợ cho công ty, các nhân viên, và ngay cả chính bản thân bạn trong việc quản lý ngân sách của công ty. 

7.Học cách quản lý thời gian

Có một thứ còn ít hơn ngân sách trong công việc đó là thời gian. Do đó, bạn cần biết làm thế nào để quản lý thời gian để đạt hiệu quả cao trong công việc của mình.

8.Hoàn thiện chính mình

Kinh nghiệm xương máu là hãy đừng quá chú ý đến những nhân viên của bạn mà quên đi chính bản thân mình. Hãy xác định những điểm yếu của mình, rồi hoạn thiện nó hàng ngày, hàng giờ.

Sau đây là một vài gợi ý:

+Hãy là người đúng giờ trong mọi cuộc hẹn

+Ngừng mọi việc, thư giãn và refresh bản thân

+Đừng coi thường người khác

+Hãy suy nghĩ  những gì bạn làm không phải là sự khó khăn, mà là những gì bạn sẽ gặt hái được

+Hãy học từ những lỗi lầm của người khác

+Hãy làm việc bắt đầu từ những điểm yếu

+Dám ước mơ

+Chú ý những khả năng tiềm ẩn

+Đừng bao giờ hạn chế bản thân

+Chính bạn có thể tạo ra sự khác biệt

…..

9.Thực hiện quản lý có đạo đức

Những người mang trọng trách quản lý thường phải đối mặt với những trường hợp khó xử liên quan đến vấn đề đạo đức.  Nhưng để tồn tại lâu với nghề, bạn cần phải có những quyết định sáng suốt và có đạo đức. Có như vậy bạn mới là người quản lý thành công.

10. Hãy nghỉ ngơi, thư giãn

Công việc của bạn sẽ thực sự kém hiệu quả nếu như bạn bị stress quá nặng nề. Hậu quả là: bạn sẽ kém sức chịu đựng, dễ nổi cáu với mọi người, dẫn đến sẽ không ai muốn ở gần bạn. Liều thuốc lúc này là NGHỈ NGƠI. Khi quay trở lại công việc, năng suất lao động hiệu quả công việc sẽ tăng lên gấp bội và bù đắp cho quãng thời gian mà bạn đã bỏ qua. Hãy tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ, thư giãn đầu óc, và nạp năng lượng cho bản thân.

Hãy cười sảng khoái hay lựa chọn một bãi biển đẹp xinh để tận hưởng những ngày tuyệt vời!

Lời cuối cùng

Quản lý là một nghệ thuật. Không ai có thể tự biết mọi thứ mà không phải học hỏi. Bạn có thể hoàn thiện để trở thành một nhà quản lý bằng cách làm việc tốt hơn mỗi ngày. Hãy ghi nhớ 10 lời khuyên trên đây và thực hiện nó dần dần trong 2 tuần. Chắc chắn nó sẽ đem lại cho bạn những điều bất ngờ và thú vị! Còn chần chừ gì nữa! Bắt đầu thôi nào!

Chúc các bạn thành công!

Anh Phương
Theo Management


Tiên trách sếp, hậu trách nhân viên

Xưa có câu ""tiên trách kỷ, hậu trách nhân"". Thế nên, trước khi trách mắng nhân viên về bất kỳ điều gì đó, các sếp cũng nên nhìn lại xem mình có khuyết điểm gì đáng để lưu tâm và sửa chữa hay không.
 

"Giận cá chép thớt" thay vì lời "chào buổi sáng"

Hôm nào đó thấy sếp vô cớ nổi cáu với nhân viên bởi những điều không đáng là họ biết ngay sếp đang có chuyện gì đó "có vấn đề". Bao nhiêu bực dọc chưa được tháo gỡ sẽ trút hết lên đầu nhân viên. ""Phải cười mỗi khi sếp tươi vui, phải biết cúi đầu mỗi khi sếp lầm lì, tức giận"" - đó là cách đối phó của nhân viên với kiểu sếp luôn để tâm trạng chi phối công việc chung. Và cũng là câu cửa miệng mà mỗi nhân viên trong công ty luôn ý thức nhắc nhở nhau. Thật nặng nề khi bắt đầu một ngày làm việc nhân viên cứ phải nhìn thấy sếp mặt lầm lì, cúi gằm xuống đất, đi thẳng vào phòng.

Nịnh ngược

Cứ tưởng chỉ có nhân viên nịnh sếp chứ ai đời lại có cả kiểu sếp xu nịnh nhân viên. Là một lãnh đạo công ty, nhưng sếp luôn sợ làm mất lòng tất cả mọi người. Chưa bao giờ thấy sếp "dám" nổi cáu với bất cứ ai mà thay vào đó là đi phàn nàn về nhân viên này với nhân viên kia. Có đáng không khi mà sếp là người giữ chức cao nhất và còn là người trả lương cho cả một tập thể? Hà cớ gì mà không phê bình, kiểm điểm với cương vị là một người sếp, mỗi khi nhân viên sai phạm quy chế hay nguyên tắc làm việc của công ty?.

Không ưa nhân viên thân mật với nhau

Đa số sếp nào cũng lo lắng việc các nhân viên trong công ty thân mật với nhau theo kiểu "cùng hội cùng thuyền". Mặc dù, sếp luôn tạo bề ngoài có vẻ hài hòa theo kiểu "văn hóa công sở", song trên thực tế lại muốn quay trở lại thời kỳ "gia đình trị" để dễ bề thao túng nhân viên. Và những mối quan hệ thân mật như vậy sẽ sớm trở thành khắc tinh của sếp.

Thói ki bo

Thông thường, mỗi khi có thông báo liên hoan để chúc mừng cho sự kiện nào đó, là cả công ty xôn xao lên về việc "hôm nay không biết sẽ được ăn uống ở nhà hàng nào?" hay "chi phí cho mỗi xuất ăn là bao nhiêu?" và "ai sẽ được sếp tín nhiệm đi chợ?"... Mặc dù luôn tuân thủ "tinh thần tiết kiệm" triệt để của sếp, nhưng sau những buổi tiệc ấy, thì nhân viên được giao chịu trách nhiệm tổ chức vẫn bị gọi vào phòng và nghe sếp phê bình cho hết buổi; nào là đồ ăn không ngon, không phù hợp với giá tiền; và rồi cuối cùng là "em đã làm tôi thất vọng quá".

Ai cũng có thể mắc lỗi nhưng quan trọng hơn cả phải biết tự điều chỉnh kịp thời để không làm ảnh hưởng tới mình và cả với những người xung quanh.

Lê My


Đưa ra ý kiến phản cảm một cách tế nhị?

Làm lãnh đạo hiển nhiên khó tránh khỏi những lúc "nộ khí xung thiên", nhưng cần biết rằng, mỗi lời người lãnh đạo nói ra đều có tác động đến nhân viên, mà trong trường hợp giận dữ, thì tác động đó phần nhiều là tiêu cực. Hãy ghi nhớ 10 quy tắc sau đây để giúp người lãnh đạo chế ngự sự nổi giận tức thời và đưa ra những ý kiến vốn không mấy xuôi tai một cách tế nhị.

Ảnh: Corbis

1. Hãy kiềm chế cảm xúc của mình

Bạn không muốn chỉ trích những hành động của một ai đó khi bạn nổi giận hoặc bối rối. Bạn có thể nói một điều gì đó bạn thực sự không muốn nói hay phản ứng nhẹ nhàng với những điều người khác phát ngôn hướng vào bạn.

2. Tìm một nơi riêng tư 

Không ai muốn bị mắng trước mặt bao nhiêu người. Nếu việc trách móc nhân viên là không thể tránh khỏi thì hãy chú ý sử dụng nó như một kế sách cuối cùng. Ví như trong một cuộc họp tại công ty, bạn muốn đưa ra vài nhận xét phản cảm riêng với một nhân viên, ý kiến này không nhất thiết phải nói trước đám đông, vậy hãy gọi anh ta tới nơi chỉ có hai người (một phòng trống khác), để nói chuyện.

3. Tập trung vào hành động chứ không phải con người

Khi phê bình ai đó nghĩa là ngay lập tức bạn đã tạo ra một rào cản giữa bạn và người đó. Hãy đưa ra ý kiến tập trung vào những hành động của họ thay vì chê bai con người họ.

4. Cụ thể

Góp ý với nhân viên nhưng chung chung, tràng giang đại hải và không đầu không cuối thì có khi lại tác hại chứ chẳng hiệu quả. Bạn cần trao đổi, góp ý một cách cụ thể về những hành động cụ thể hoặc những điều cụ thể người đó đã làm, đã nói, nếu bạn muốn họ hiểu rõ và bị thuyết phục.

5. Không trì hoãn

Bạn nên đưa ra những ý kiến phản hồi bị coi là phản cảm sớm nhất có thể sau mỗi sự kiện. Nếu bạn nhìn thấy một nhân viên cư xử thô lỗ với khách hàng, đừng chờ đợi cho đến khi nhận được những ý kiến phê bình về hành động đó từ những người xung quanh rồi mới nhắc nhở nhân viên. Thay vào đó, bạn hãy gọi nhân viên đó vào văn phòng của bạn và nói chuyện ngay tức thì.

6. Bình tĩnh

Đừng la hét hay gào thét. Điều đó sẽ đặt người nghe vào thế phòng thủ và chắc chắn sẽ không thấm được những điều bạn đang cố gắng nói với họ. 

7. Luôn khẳng định sự tin tưởng

Điều này củng cố thêm quy tắc thứ 3 đã đề cập ở trên, nhưng ở đây bạn sẽ cần phải cho họ biết rằng bạn vẫn giữ lòng tin ở họ cũng như năng lực của họ. Điều bạn muốn là họ thay đổi hành động. Hãy nói một điều gì đó tương tự với thái độ khuyến khích như “anh sẽ là một lễ tân phục vụ khách hàng rất tốt, vậy nên tôi chắc rằng anh sẽ cần kiên nhẫn hơn với khách hàng”.

8. Ngừng nói và lắng nghe

Sau khi nói rõ với nhân viên điều bạn không hài lòng, tại sao bạn không hài lòng, hãy dừng lại và không nói gì thêm. Hãy dành cho người đó một cơ hội để giải thích hay phản bác lại nhận xét của bạn. Hãy lắng nghe những điều họ nói một cách nghiêm túc.

9. Chỉ ra hướng khắc phục

Đừng chỉ chê bai, hãy chỉ cho họ cách giải quyết, và cùng bàn bạc với họ mọi giải pháp. Hãy chắc chắn rằng những bước hành động cụ thể được vạch ra rõ ràng, đâu là cái họ được phép làm, đâu là cái không được thực hiện tiếp. Nếu cần thiết, bạn có thể tăng cường các khoá đào tạo chuyên sâu hơn cho nhân viên nắm rõ.

10. Hãy bao dung

Sau khi đã đưa ra ý kiến, tỏ thái độ và chấp nhận một giải pháp, hãy bắt tay vào việc thực hiện giải pháp đó. Đừng nuôi dưỡng ác ý đối với nhân viên chỉ vì họ đã mắc lỗi. Cũng đừng lửng lơ thái độ làm họ lo sợ rằng họ có thể mắc sai lầm khác. Hãy tiếp tục quan sát hành động của họ như cách bạn đã làm với tất cả các nhân viên khác, nhưng cũng đừng quá ám ảnh về nó. Hãy công bằng và đừng định kiến.

Đưa ra những ý kiến phản hồi phản cảm chưa bao giờ được coi là việc dễ dàng, nhưng nếu bạn phải làm điều đó, hãy thật tế nhị để người nhận ý kiến không cảm thấy bị tổn thương. Hãy tìm một nơi riêng tư để nói chuyện, bình tĩnh suy nghĩ, kiên nhẫn lắng nghe và đừng quên thể hiện sự hài hước tinh tế.

X.Chi
Theo Management


Ủy thác công việc hiệu quả?

Các nhà quản lý thường cảm thấy thất vọng khi nhân viên không thực hiện nhiệm vụ đúng như mong đợi của họ. Điều này có thể được loại bỏ bằng cách mài sắc khả năng truyền thông của bạn và lấp những lỗ hổng mà khiến cho nhân viên không thực sự hiểu mong muốn của bạn là gì. Chuyên gia tư vấn Keith Rosen hướng dẫn 10 bước để các nhà quản lý có thể ủy thác công việc hiệu quả.

 

Bước 1: Biết nhiệm vụ đó là gì.

Bước 2: Luôn nhớ kết quả cuối cùng hoặc kết quả mà mình mong muốn.

Bước 3: Tìm người để ủy thác và giao nhiệm vụ cho người đó.

Bước 4: Chia sẻ kết quả mà bạn mong muốn.

Bước 5: Nói cho người đó biết tại sao việc này quan trọng, hơn là chỉ đơn giản nói họ phải làm gì.

Bước 6: Nói là những thuận lợi đối với người sẽ đảm nhận nhiệm vụ này, bao gồm cả việc công việc này sẽ có lợi cho người đó như thế nào.

Bước 7. Hỏi xem người đó dự định sẽ thực hiện công việc như thế nào. Hỏi những câu như: "Anh/chị nghĩ cách nào là cách tốt nhất để làm việc này?"; "Anh, chị đã từng làm việc gì tương tự như thế này chưa?". Câu trả lời của những câu hỏi này sẽ xác định liệu người đó có phù hợp để làm việc hay không và liệu người đó đã có những công cụ, thông tin và chiến lược thích hợp để làm việc này hay chưa.

Bước 8: Xác định thời gian mà bạn muốn nhiệm vụ sẽ được hoàn thành. "Anh/chị nghĩ khi nào mình sẽ hoàn thành việc này". Để người đó chủ động đưa ra thời gian sẽ khiến họ tự chủ với công việc hơn. Nếu thời gian người đó lựa chọn không thích hợp, hỏi xem nếu như muốn hoàn thành công việc sớm hơn thì người đó cần hỗ trợ những gì.

Bước 9: Xác nhận lại. Chẳng hạn: "Tốt rồi. Vậy là anh/chị sẽ hoàn thành việc này vào ngày...." hoặc "Thế là tôi có thể hy vọng là sẽ thấy bản kế hoạch đó trên bàn của tôi vào 10 giờ sáng mai chứ?".

Bước 10: Quan trọng là, hãy chắc chắn bạn có theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ để đảm bảo tiến độ.

* Keith Rosen là một nhà tư vấn bán hàng, một diễn giả và tác giả của nhiều cuốn sách. Ông được tạp chí Inc bình chọn là một trong năm nhà huấn luyện có ảnh hưởng nhất ở Mỹ.

Châu Giang
Theo Allbusiness


Giúp sếp trẻ quản lý nhân viên "đàn anh"?

 - Là một người trẻ tuổi mới lên vị trí quản lý, bạn phải lãnh đạo một đội ngũ nhân viên lớn tuổi hơn mình (45, 50 thậm chí 60 tuổi). Sự khác biệt về kinh nghiệm, quan niệm sống, thái độ đối với công việc ... nhiều khi khiến bạn cảm thấy khó xử. Làm thế nào để đạt tới sự hòa hợp giữa hai thế hệ trong cùng công ty? Sau đây là 5 chìa khóa giúp bạn quản lý hiệu quả những nhân viên lớn tuổi hơn mình. 

1. Thoát khỏi mối quan hệ cha-con

 Đối mặt với một đồng nghiệp đáng tuổi cha mẹ của mình, dù có ý thức hay không, bạn dễ có nguy cơ rơi vào mối quan hệ cha –con. Là con thì không thể yêu cầu bố mẹ mình phải hoàn thành việc gì đó đúng hạn, không thể phê bình hay nhận xét thẳng thắn được. Nếu chấp nhận mối quan hệ kiểu này thì bạn sẽ không thể nào yêu cầu những đồng nghiệp lớn tuổi của mình làm việc một cách nghiêm túc và hiệu quả được.

Để tránh khỏi điều này, bạn nên nhắc mình rằng : « nếu mình được chỉ định làm lãnh đạo và phải chịu trách nhiệm quản lý một ê kíp, có nghĩa là mình đã chứng tỏ rằng mình là người có năng lực ». Nói thì dễ nhưng phải làm thế nào ? Bạn có thể viết ra trên một tờ giấy danh sách những năng lực và ưu điểm đã được khẳng định bởi cấp trên qua sự nghiệp của bạn. Bạn cũng có thể xem lại kết quả đánh giá năng lực hàng năm của mình nếu có. Nếu bạn thấy không tự tin lắm thì có thể theo học một khóa bổ trợ về quản lý. Nhưng hãy thận trọng, vì sự tự tin và khẳng định mình không có nghĩa là dành cho ê kíp của mình sự chiếu cố, chiều chuộng, và càng không phải sự lạnh lùng độc đoán. Hãy nhớ rằng : những nhân viên lớn tuổi không phải là cha mẹ bạn, cũng không phải là những "đứa trẻ lớn", họ chỉ là người cộng sự mà thôi. 

2. Thoát khỏi suy nghĩ sai lệch về một thế hệ đã qua

« Những nhân viên lớn tuổi là những người đã bị thời gian bỏ quên, không theo kịp công nghệ và không còn cần thiết cho cuộc sống của doanh nghiệp đang thay đổi từng ngày nữa ». Đây là một nhầm lẫn tệ hại mà một số nhà lãnh đạo trẻ có thể mắc phải. Thực ra suy nghĩ của những nhân viên lớn tuổi cũng rất khác nhau, một số người chỉ mong muốn sớm được về hưu và không còn thiết tha lắm với công việc, nhưng một số khác lại tràn đầy nhiệt huyết và muốn tham gia vào các dự án mới. Nên dành thời gian để hiểu đội ngũ nhân viên của mình và biết trạng thái tinh thần của mỗi người họ. 

3. Sự kính trọng

Hãy coi trọng vai trò của mỗi người trong ê kíp, mỗi người đều đặc biệt và không có ai là cao cấp hơn người khác. Sự khác biệt về thế hệ giữa những người trẻ và già tạo nên sự khác biệt về nhận thức xã hội, văn hóa và sự khác biệt về đóng góp cho công việc, nếu không tính đến những khác biệt này , hoạt động của công ty có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ như rất nhiều người trẻ tuổi ưu tiên sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân, vì thế nếu công việc hiện tại không đáp ứng tiêu chí này, họ sẵn sàng thay đổi. Trong khi những nhân viên lớn tuổi hơn ngại sự thay đổi và đôi khi hy sinh cuộc sống gia đình để giữ lại việc làm hoặc tìm tới sự thăng tiến.

Nếu như thế hệ lãnh đạo trẻ thường xuyên dùng email hoặc coi công nghệ mới như phương tiện liên lạc số một, thì thế hệ lớn tuổi thích những cuộc họp và trao đổi trực tiếp hơn. Cũng như vậy, thế hệ trẻ hay dùng những từ ngữ tiếng nước ngoài, hay lên mạng và nghe nhạc trong giờ làm việc, cách ăn mặc thường thoải mái hơn thế hệ lớn tuổi..Làm người quản lý, bạn nên thích ứng với những sự khác biệt này và coi trọng những thói quen của họ: hãy nói chuyện thường xuyên với họ thay vì gửi mail, cố gắng quan tâm tới những sở thích đôi khi lỗi thời của họ, khuyến khích nhân viên làm quen với công nghệ thay vì phán xét sự yếu kém về năng lực của họ.  

4. Bỏ qua chiếc mũ « sếp »

Thông thường để thể hiện sự quyết đoán của mình, người quản lý trẻ có xu hướng tận dụng quyền lực « sếp » của mình để ra lệnh. Nhưng thực ra bạn không nên tỏ ra mình là đứa-trẻ-30-tuổi cố gắng làm tất cả, thấy tất cả, hiểu tất cả và luôn mong muốn đảo lộn tất cả những thói quen và hoạt động của tổ chức. Những đồng nghiệp lớn tuổi của bạn sẽ không bị lừa vì sự lạm dụng quyền lực này, họ sẽ hiểu rằng đó là biểu hiện của sự thiếu tự tin, không thể thể hiện tính quyết đoán một cách tự nhiên, vì thế họ sẽ tận dụng khe hở này.

Ngược lại, một chút khiêm nhường sẽ không làm bạn bị hớ : Một người lãnh đạo hiểu biết không sợ công nhận khả năng của các đồng nghiệp. Những nhân viên lớn tuổi luôn có một kinh nghiệm thật sự để chia sẻ, hãy trân trọng điều đó thay vì lãng phí nó. Bạn có thể đặt ra những câu hỏi về kỹ thuật, đưa ra những nhận xét tích cực về sự thạo việc hay năng lực của một cộng sự tài ba.. Đó là những dấu hiệu thể hiện sự coi trọng của sếp mà những nhân viên rất mong nhận được trong khoảng thời gian cuối sự nghiệp của mình.

5. Sẵn sàng tiếp nhận thông tin và sự hướng dẫn

Để bù đắp những thiếu sót về kinh nghiệm, những sếp trẻ có thể theo học một khóa học đặc biệt về quản lý, hoặc tìm một « huấn luyện viên ». Một mối liên hệ thường xuyên với cấp trên của bạn cũng có thể đem lại cho bạn những lời khuyên từ những người nhiều kinh nghiệm hơn. Bạn cũng có thể kết hợp với bộ phận tuyển dụng : những người nhân viên lớn tuổi hoàn toàn có thể đào tạo những nhân viên mới gia nhập công ty. Tại sao bạn không tham khảo kinh nghiệm của những nhà lãnh đạo thành công khác ?

Phương Thảo DONG
Theo Entreprise.com


Quản trị chuỗi cung cấp - SCM?

Hệ thống quản trị chuỗi cung cấp (SCM- Supply Chain Management) là hệ thống cho phép quản trị tại các nhà máy và trong cả hệ thống các điểm cung của một công ty cho khách hàng.

Ứng dụng của SCM

Hệ thống quản trị chuỗi cung cấp được ứng dụng để theo dõi việc lưu hành của sản phẩmdịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng (nhà sản xuất, đại lý, hệ thống bán lẻ… ). SCM cũng được sử dụng để quản lý các yêu cầu, nhà kho, lưu vận, lưu hành, các yêu cầu liên quan khác và cả các cách sản phẩm đến được với khách hàng cuối cùng.

Các chức năng cơ bản của SCM bao gồm việc tối ưu hóa chuỗi cung cấp, quản lý các biến cố, quản lý tồn kho, quản lý RFID, quản lý lưu hành. Ngoài ra SCM có thể còn bao gồm việc quản lý thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa các nhà cung cấp[1].

Lợi ích khi sử dụng SCM

  • Nâng cao hiệu suất của các dòng sản phẩm thông qua việc kết hợp giữa các nhà cung cấp với nhau.
  • Nâng cao dịch vụ khách hàng và giảm tồn kho tối đa.
  • Giảm chi phí lưu kho sản phẩm của doanh nghiệp.
  • Giảm chi phí giá thành mỗi sản phẩm và nâng cao lợi nhuận đến mức tối ưu.
  • Giảm chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
  • Nâng cao sức cạnh tranh cho các công ty.
  • Thiết lập chuỗi cung ứng giữa các đối tác truyền thống với nhau.
  • Đáp ứng nhanh chóng với sự thay đổi của thị trường và giảm các yếu tố các loại tác động đến khách hàng.

Rủi ro khi sử dụng SCM

  • Nếu lựa chọn một hệ thống SCM sai có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty, từ nguyên liệu sản xuất đến hệ thống phân phối.
  • Hệ thống SCM không tương thích với các công cụ quản trị như hệ thống sổ sách, các phần mềm kinh doanh đang được sử dụng có thể dẫn đến việc phá hủy toàn bộ hoạt động kinh doanh.
  • Các hình thức kinh doanh với đa chi nhánh, đối tác, văn phòng đại diện có thể dẫn tới sự xáo trộn không phân tích nổi.

Ứng dụng của Dell về SCM

Hiện nay hệ thống này được sử dụng tại tất cả các nhà máy của Dell trên khắp thế giới cho phép Dell có thể thích nghi với môi trường kinh doanh và công nghệ biến đổi nhanh đồng thời duy trì được hiệu quả hoạt động cao nhất.

Dell cũng đã tự động hóa việc lập kế hoạch sản xuất, dự đoán nhu cầu, quản trị kho qua sử dụng công nghệ thông tin và mô hinh e-supply chain.

Liên kết ngoài


Quản lý quan hệ khách hàng - CRM?

Quản lý quan hệ khách hàng là một phương pháp giúp các doanh nghiệp tiếp cận và giao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống và hiệu quả, quản lý các thông tin của khách hàng như thông tin về tài khoản, nhu cầu, liên lạc… nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn.

Thông qua hệ thống quan hệ khách hàng, các thông tin của khách hàng sẽ được cập nhật và được lưu trữ trong hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu. Nhờ một công cụ dò tìm dữ liệu đặc biệt, doanh nghiệp có thể phân tích, hình thành danh sách khách hàng tiềm năng và lâu năm để đề ra những chiến lược chăm sóc khách hàng hợp lý. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể xử lý các vấn đề vướng mắc của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Quản lý quan hệ khách hàng cung cấp một hệ thống đáng tin cậy, giúp quản lý khách hàng và nhân viên, cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên với khách hàng. Một chính sách quan hệ khách hàng hợp lý còn bao gồm chiến lược đào tạo nhân viên, điều chỉnh phương pháp kinh doanh và áp dụng một hệ thống công nghệ thông tin phù hợp. Quan hệ khách hàng không đơn thuần là một phần mềm hay một công nghệ mà còn là một chiến lược kinh doanh bao gồm cả chiến lược tiếp thị, đào tạo và các dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng tới khách hàng. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một giải pháp quan hệ khách hàng hợp lý dựa trên tiêu chí đặt khách hàng ở vị trí trung tâm, quan tâm tới nhu cầu của khách hàng nhằm đạt được mục đích là duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng và đạt được lợi nhuận tối đa trong kinh doanh.

Theo. http://vi.wikipedia.org/wiki/CRM


BI là gì?

Business Intelligence – BI (tạm dịch là giải pháp quản trị  doanh nghiệp  thông minh) là một hệ thống  báo cáo cho phép tổ chức/doanh nghiệp (TC/DN) khai thác dữ liệu  từ nhiều nguồn khác nhau về khách hàng  (KH), thị trường, nhà cung cấp, đối tác, nhân sự... và phân tích/sử dụng các dữ liệu  đó thành các nguồn thông tin  có ý nghĩa nhằm hỗ trợ việc ra quyết định. Thông thường cấu trúc một bộ giải pháp BI đầy đủ gồm một kho dữ liệu  tổng hợp (datawarehouse) và các bộ báo cáo, bộ chỉ tiêu quản lý hiệu năng TC/DN (Key Perfomance Indicators – KPIs), các dự báo phân tích  giả lập (Balance Scorecards, Simulation and Forecasting...).

Thông thường, đầu ra trong mỗi hệ thống  ERP, CRM, HCM... là các dữ liệu  đã sẵn sàng phục vụ việc phân tích. Tuy nhiên, đối với nhiều TC/DN, việc khai thác các dữ liệu  này chưa được chú trọng nên chỉ dừng ở các yêu cầu kết xuất báo cáo nghiệp vụ đơn thuần của các phòng ban. Khá nhiều thông tin  quan trọng  cho người ra quyết định  và lập kế hoạch  chiến lược đã bị bỏ qua do thiếu công cụ tổng hợp, phân tích, “móc nối” các dữ liệu  này, hoặc do người lãnh đạo  không nhìn nhận khả năng này nên không đặt ra yêu cầu với hệ thống  CNTT. Xét ở góc độ đầu tư  thì đây là sự lãng phí  lớn.

Trên thực tế, BI cần cho mọi TC/DN có nhu cầu tích hợp dữ liệu phân tích  thông tin. Đối với nhà quản lý, đây là hệ thống  phân tích  hoạt động  DN chính xác  và toàn diện nhất do thông tin  được tổng hợp từ nhiều nguồn trong DN. Trong nhiều trường hợp, nếu không sử dụng BI, TC/DN sẽ không có được các kết quả ngay, thậm chí có thể tốn kém một khoản chi phí cho việc khảo sát, nghiên cứu, tìm tòi mới có được kết quả. Với BI, DN dễ dàng có ngay thông tin  phân tích  quản lý, để trả lời các câu hỏi  như: “KH quan trọng  nhất của DN hiện nay là ai?”; “Thị trường nào đang mang lại tỷ trọng lợi nhuận  chính?”...


BOS là gì? Chức năng?

BOS ~ Business Operator System. Hệ thống quản lý kinh doanh - sản xuất.

Một phần mềm BOS cần phải thể hiện được tất cả các chu trình kinh doanh. Việc tích hợp một cách xuyên suốt và từ bỏ các giải pháp cô lập dẫn đến một hệ thống được trung tâm hóa trở lại mà qua đó các tài nguyên có thể được quản lý bởi toàn bộ doanh nghiệp.

Các chức năng tiêu biểu của BOS bao gồm:

  • Lập kế hoạch, dự toán
  • Bán hàng và quản lý khách hàng
  • Sản xuất
  • Kiểm soát chất lượng
  • Kiểm soát nguyên vật liệu, kho, tài sản cố định
  • Mua hàng và kiểm soát nhà cung ứng
  • Tài chính – Kế toán
  • Quản lý nhân sự
  • Nghiên cứu và phát triển

Các chức năng tiêu biểu của ERP

Một phần mềm ERP cần phải thể hiện được tất cả các chu trình kinh doanh. Việc tích hợp một cách xuyên suốt và từ bỏ các giải pháp cô lập dẫn đến một hệ thống được trung tâm hóa trở lại mà qua đó các tài nguyên có thể được quản lý bởi toàn bộ doanh nghiệp.

Các chức năng tiêu biểu của một phần mềm hoạch định tài nguyên doanh nghiệp bao gồm:

  • Lập kế hoạch, dự toán
  • Bán hàng và quản lý khách hàng
  • Sản xuất
  • Kiểm soát chất lượng
  • Kiểm soát nguyên vật liệu, kho, tài sản cố định
  • Mua hàng và kiểm soát nhà cung ứng
  • Tài chính – Kế toán
  • Quản lý nhân sự
  • Nghiên cứu và phát triển

Bên cạnh đó, do tính dây chuyền và phức tạp của hệ thống ERP, các doanh nghiệp cung cấp giải pháp ERP còn hỗ trợ khách hàng thông qua dịch vụ tư vấn, thiết kế theo đặc thù của doanh nghiệp.


ERP là gì?

Hoạch Định Tài Nguyên Doanh nghiệp (tiếng Anh: Enterprise Resource Planning – ERP) nguyên thuỷ ám chỉ một hệ thống dùng để hoạch định tài nguyên trong một tổ chức, một doanh nghiệp. Một hệ thống ERP điển hình là nó bao hàm tất cả những chức năng cơ bản của một tổ chức. Tổ chức đó có thể là doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ v.v.

Một phần mềm ERP, nó tích hợp những chức năng chung của một tổ chức vào trong một hệ thống duy nhất. Thay vì phải sử dụng phần mềm kế toán, phần mềm nhân sự-tiền lương, quản trị sản xuất ... song song, độc lập lẫn nhau thì ERP gôm tất cả vào chung 1 gói phần mềm duy nhất mà giữa các chức năng đó có sự liên thông với nhau.

Một hệ thống ERP có thể được mô tả qua sơ đồ sau:


Một doanh nghiệp kinh doanh cần những phân hệ nào trong ERP?

Một doanh nghiệp kinh doanh cần những phân hệ nào trong ERP?
Đâu là thước đo 1 nhà tư vấn giải pháp quản lý tốt?

Đâu là thước đo 1 nhà tư vấn giải pháp quản lý tốt?
Ứng dụng CNTT vào công việc quản lý. Các bước tiến hành?

Để giúp các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong quá trình triển khai áp dụng CNTT, trong phạm vi bài báo này chúng tôi xin trình bày một quy trình áp dụng CNTT trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm từ các nước công nghiệp phát triển cũng như từ các nước Đông Âu, nơi đã đi trước ta chỉ vài ba năm trong quá trình áp dụng CNTT vào sản xuất và quản lý. Một lý do nữa để chúng tôi viết bài báo này là cũng theo kinh nghiệm từ các nước đã nêu trên, tỷ lệ thành công của các dự án triển khai áp dụng CNTT khá thấp, ở ngay các nước tư bản phát triển, tỷ lệ này cũng chỉ đạt 60%, không nói gì đến các nước khác. Chúng tôi hy vọng rằng quy trình được miêu tả dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn sự phức tạp của việc ứng dụng CNTT, giúp bạn tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra và phần nào giúp doanh nghiệp của bạn thành công.

Bước 1. Đừng vội ứng dụng CNTT 1 cách nóng vội !
Điều này có vẻ như trái với tất cả những ý đã nêu ở trên. Nhưng sự thực là như vậy, CNTT cũng như các công nghệ tiên tiến, không chấp nhận sự nóng vội. Hãy cẩn thận nếu bạn không muốn nhìn thấy cảnh hàng chục, hàng trăm máy tính được kết nối thành một mạng máy chữ xa xỉ, hoặc tồi tệ hơn - bị xếp kho. Khoản tiền bỏ ra để đầu tư cho công nghệ tiên tiến đó đã không mang lại hiệu quả mong đợi cho doanh nghịêp.

Trong giai đoạn này cần chú ý đến ba điểm sau:

  • - Sự ủng hộ của lãnh đạo cấp cao cũng như của những người chủ doanh nghiệp
  • - Sự hiện diện của đội ngũ nhân viên có trình độ và kỷ luật.
  • - Doanh nghiệp có một tổ chức rõ ràng với các chức năng không chồng chéo, tất cả các hoạt động được mô tả kỹ lưỡng và tuân thủ chặt chẽ theo các tiêu chuẩn, quy chế và qui định cụ thể.

Nếu doanh nghiệp của bạn có đủ cả ba yếu tố trên, nếu bạn vững tin rằng CNTT sẽ mang lại hiệu quả thực sự cho doanh nghiệp, bạn hãy mạnh dạn bước qua giai đoạn hai.

Bước 2: Hãy tham khảo ý kiến của các chuyên gia.
CNTT cũng là một công nghệ. Cũng như mọi công nghệ khác, để áp dụng được nó bạn cần phải biết công nghệ đó là công nghệ gì, đối với mô hình sản xuất và quản lý của bạn, CNTT có thể làm được gì để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để hiểu được điều này cũng như một loạt vấn đề khác có liên quan, bạn cần tham khảo ý kiến từ ba nguồn sau:

  • Nhà tư vấn giải pháp.
  • Nhà cung cấp giải pháp CNTT.
  • Nhân viên của bạn.

Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay thật khó kiếm được những nhà tư vấn giải pháp chuyên nghiệp và độc lập, thường thì tư vấn giải pháp là một chức năng của nhà cung cấp giải pháp, đó là một thực tế không mấy thuận lợi. Nhà tư vấn giải pháp bao giờ cũng phải đứng làm cầu nối giữa kinh doanh và công nghệ, nhà tư vấn giải pháp chuyên nghiệp sẽ cho bạn biết CNTT có thể làm gì cho doanh nghiệp của bạn, ví dụ như nên áp dụng các sản phẩm CNTT loại nào là tốt nhất cho trường hợp cụ thể của doanh nghiệp bạn, đơn thuần chỉ là phần mềm kế toán dùng để ghi nhận và lưu trữ thông tin hay có thể mức cao hơn, ứng dụng các sản phẩm về hoạch định vật tư, kho bãi, hoặc cao hơn nữa - phần mềm hoạch định tài nguyên doanh nghiệp như MRP II , ERP, CPFR, như tất cả các công ty lớn trên thế giới đã và đang áp dụng có hiệu quả. Trong một số trường hợp nhà tư vấn giải pháp thậm chí phải cùng bạn thay đổi một số quy trình quản lý của doanh nghiệp cho phù hợp với các tiêu chuẩn hiện đại của thế giới.

Trong khi các nhà tư vấn giải pháp giới thiệu các qui trình và sản phẩm trên qui mô toàn doanh nghiệp thì nhân viên của bạn sẽ chỉ rõ các yêu cầu cụ thể, cần thiết cho thực tế sản xuất và kinh doanh, đó chính là một lý do tại sao bạn cần tham khảo ý kiến của cả nhân viên. Ngoài ra, mọi thay đổi trong phong cách làm việc, dù lớn hay nhỏ thường được chấp nhận một cách miễn cưỡng, đặc biệt là đối với các nhân viên đã có tuổi, mà ứng dụng CNTT thường kéo theo những sự thay đổi lớn trong lề lối làm việc của toàn công ty, vì vậy bạn cần làm việc với nhân viên của mình để chuẩn bị cho họ về mặt tâm lý.

Sau khi thực hiện những công việc đã nêu trên, nếu tìm được một giải pháp thích hợp, bạn có thể bước qua giai đoạn thứ ba.

(Trong giai đoạn thứ hai này, có một số điểm đáng chú ý liên quan đến việc định giá dự án. Đây là một vấn đề khá phức tạp và tế nhị, đồng thời cũng rất quan trọng, đặc biệt trong hoàn cảnh của ta hiện nay, hy vọng sẽ được trình bày cụ thể trong một bài báo riêng).

Bước 3. Triển khai dự án.
Để có thể triển khai dự án, việc đầu tiên cần thực hiện là thành lập nhóm triển khai (NTK) bao gồm ba thành phần đã nêu ở bước hai, đó là nhà tư vấn, nhà cung cấp giải pháp, nhân viên của công ty từ phòng CNTT (nếu có) và nhân viên các phòng ban có liên quan trực tíếp trong quá trình triển khai. Nhiệm vụ của nhóm này là khảo sát hiện trạng của doanh nghiệp, xác định những yêu cầu cũng như khả năng hiện có của công ty để từ đó đưa ra bản thiết kế cụ thể. Để công việc có thể tiến hành trôi chảy, lãnh đạo doanh nghiệp cần tạo mọi điều kiện cũng như chuyển giao một số quyền hành tạm thời cho nhóm (không ít trường hợp NTK cần thay đổi một số quy trình, quy chế hiện tại, đây cũng là một trong những lý do tại sao trong NTK cần có sự tham gia của đại diện các phòng ban liên quan).

Trong quá trình khảo sát, NTK có nhiệm vụ phát hiện tất cả các vấn đề có thể gây cản trở cho việc triển khai dự án. Kết quả của công việc này sẽ là một bản tường trình chi tiết với chữ ký của toàn bộ thành viên NTK. Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng trong toàn bộ quy trình áp dụng CNTT, nếu các công việc ở giai đoạn này không được thực hiện tốt sẽ có rất ít hy vọng thành công ở các bước sau. Cần hết sức tránh một hiện tượng là đại diện của nhà cung cấp giải pháp đến chỉ để “ thăm quan” và giới thiệu chức năng của sản phẩm cho đại diện của doanh nghiệp.

Sau khi các vấn đề nêu trên được giải quyết, phần việc tiếp theo của NTK, cụ thể là của nhà tư vấn giải pháp và nhà cung cấp giải pháp là đào tạo các đại diện của doanh nghiệp, thành viên của NTK. Đây là phần việc rất dễ bị bỏ qua , có vài lý do sau đây:

  • Ta chưa có thói quen trả tiền cho việc đào tạo.
  • Nhà cung cấp giải pháp không muốn lộ bí mật.
  • Cả nhà cung cấp lẫn doanh nghiệp đều chưa hiểu được tầm quan trọng của việc này.

Nếu đại diện của doanh nghiệp trong NTK không hiểu rõ chức năng cũng như cấu trúc của từng công đoạn của giải pháp, và vì thế không thể tự mình tiến hành mô hình hoá các quá trình sản xuất kinh doanh trên sản phẩm của nhà cung cấp, thời gian triển khai dự án sẽ bị kéo dài một cách đáng kể, hiệu quả của việc áp dụng CNTT cũng giảm xuống một cách tương ứng, thêm vào đó, tổng giá thành của dự án sẽ tăng do việc phải đào tạo lại nhân viên sau này.

Sau khi đã được đào tạo kỹ lưỡng, các thành viên của NTK, đại diện của doanh nghiệp cần tự mình tiến hành mô hình hoá tất cả các quy trình sản xuất và kinh doanh, phần việc này có thể cần sự tham gia của nhà tư vấn giải pháp. Cũng trong phần việc này tầm quan trọng của các tiêu chuẩn, quy định, quy chế của doanh nghiệp sẽ được thể hiện rất rõ.

Phần việc cuối cùng của giai đoạn thứ ba này là chạy thử với các dữ liệu càng gần với thực tế càng tốt và hướng dẫn cho từng nhân viên của công ty sử dụng hệ thống. Công việc này thường được tiến hành trực tiếp tại chỗ làm việc của các bộ phận, phòng ban. Phần việc tưởng chừng như đơn giản nhất này cũng có thể gây ra một số vấn đề làm chậm trễ kế hoạch triển khai dự án, đặc biệt khi nhân viên của bạn vì lười hay cố tình không muốn dùng công nghệ mới với những ý kiến kiểu như “giao diện này xấu quá”, “tôi bận”, “ tôi chẳng hiểu gì cả”, vv, những thái độ không hợp tác đó cần được ngăn chặn ngay từ bước một như đã nói ở trên.

Đến đây, giai đoạn ba có thể coi là kết thúc, NTK đã phải thực hiện một khối lượng công việc rất lớn, hệ thống đã được cài đặt và sẵn sàng làm việc, nhân viên của bạn đã biết cách ứng dụng công nghệ mới. Bạn hãy chuẩn bị đón bước thứ tư.

Bước 4. Chạy thử trên quy mô toàn bộ doanh nghiệp
Đây là giai đoạn đáng lo ngại nhất đối với NTK. Trong trường hợp kết quả chạy thử không đạt yêu cầu, công sức của cả nhóm sẽ “tan thành mây khói”, nhà cung cấp giải pháp sẽ không giải ngân được hợp đồng, doanh nghiệp không sử dụng được một công nghệ mong đợi. Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần sử dụng cả hai hệ thống - cũ và mới, đây cũng là một khó khăn cho các bộ phận có liên quan, lượng công việc tăng lên khá nhiều. Đặc điểm của giai đoạn này là hệ thống sẽ được hoạt động với các dữ liệu thực, với cường độ thực. Sau khi tiến hành thống kê và so sánh với kết quả thực tế cho một chu kỳ nhất định, ví dụ như một tháng, một quý, lãnh đạo doanh nghiệp cùng với NTK sẽ ra quyết định có triển khai dự án hay không. Nếu có NTK sẽ lên lịch triển khai cụ thể cho từng phòng ban, bộ phận của doanh nghiệp.

Bước 5. Đưa hệ thống vào khai thác
Đến đây có thể coi nhiệm cụ của NTK đã hoàn thành, hệ thống được đưa vào khai thác trên qui mô như đã thiết kế ban đầu. Nếu các giai đoạn trước được NTK thực hiện đúng và đủ thì bạn có thể yên tâm theo dõi và đánh giá hiệu quả của việc triển khai và áp dụng CNTT. Đây là giai đoạn ‘hạnh phúc’ nhất của bạn, CNTT đã được áp dụng có hiệu quả trong doanh nghiệp , năng suất lao động tăng, bạn phục vụ khách hàng nhanh hơn và chất lượng hơn, các thông tin thống kê , dự báo trở nên chính xác hơn. Nhưng để kết thúc bạn cần đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế của việc áp dụng CNTT, để làm điều này , có thể một lần nữa bạn cần hỏi đến các nhà tư vấn và chính nhân viên của bạn.

Bước 6. Đừng lạm dụng CNTT.
Đúng vậy, CNTT đối với các doanh nghiệp không chuyên về tin học cũng chỉ là một công cụ, cho dù là một công cụ hết sức hữu ích. Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần tập trung để phát triển các công nghệ chính của mình, còn có nhiều việc để làm, hơn nữa sau một thời gian dồn sức cho việc triển khai ứng dụng CNTT, nhiều phần việc khác đã không được chú ý một cách cần thiết. Đặc biệt tránh trường hợp, khi quá thoả mãn với thành công trong việc áp dụng, doanh nghiệp tự mình phát triển và cung cấp dịch vụ CNTT. Hãy biết dừng lại đúng lúc!

Bước 7
… Bẵng đi một thời gian, bạn đã quên mất rằng bạn đang ứng dụng CNTT. Đơn giản vì bạn coi nó rất thường, thường như bây giờ mọi người dùng điện thoại di động vậy. Bạn đã thành công


Một doanh nghiệp sản xuất cần những phân hệ nào trong ERP?

Một doanh nghiệp sản xuất cần những phân hệ nào trong ERP?
Tại sao phải đầu tư CNTT vào công việc quản lý?

Tại sao phải đầu tư CNTT vào công việc quản lý?
Đâu là thước đo nhà cung cấp giải pháp tốt?

Đâu là thước đo nhà cung cấp giải pháp tốt?
Đâu là thước đo 1 phần mềm ứng dụng quản lý?

Đâu là thước đo 1 phần mềm ứng dụng quản lý?
Những điều kiện cần để áp dụng CNTT có hiểu quả?

Ứng dụng các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) trong các lĩnh vực hoạt động đang trở nên có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp (DN) ở nước ta hiện nay, nhất là trong xu thế hội nhập và cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên rất gần với các DN Việt Nam.
Hồ Thủy Sơn
Ứng dụng các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) trong các lĩnh vực hoạt động đang trở nên có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp (DN) ở nước ta hiện nay, nhất là trong xu thế hội nhập và cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên rất gần với các DN Việt Nam. 
Sự chuẩn bị và ứng phó của các DN với “làn sóng” nói trên sẽ như thế nào? Việc đầu tư hạ tầng như thế nào? Và nguồn nhân lực ra sao? để có thể chủ động chào đón và hòa nhập với những “làn sóng” mới mẻ?
Trước tiên, chúng ta cần hiểu thế nào là một hệ thống “Cơ sở hạ tầng CNTT trong DN” và “Nguồn nhân lực CNTT trong DN” là gì? Mối quan hệ giữa hai yếu tố này mật thiết như thế nào? Việc ứng dụng và phát triển CNTT trong DN cần những điều kiện gì?
Cơ sở hạ tầng CNTT trong DN
Từ trước đến nay, có rất nhiều ý kiến cho rằng: Cơ sở hạ tầng CNTT trong một DN bao gồm: hệ thống mạng máy tính, máy chủ, máy tính cá nhân, các phần mềm ứng dụng,… ý kiến này không sai, nhưng chưa đủ. Tất cả những điều vừa nêu mới chỉ là “trang thiết bị cơ sở vật chất” tối thiểu cho một hệ thống.
Vậy một hệ thống hạ tầng CNTT gồm những yếu tố:
- Tư duy và nhận thức của người Lãnh đạo DN phải đủ để nhận diện ra được một chiến lược đúng đắn trong việc ứng dụng, đầu tư và phát triển hệ thống hạ tầng thông tin trong DN. DN phải nhận thức rõ: Thông tin là tài sản DN giúp tạo ra sản phẩm chiến lược nhằm mục đích kinh doanh. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong việc phát triển hạ tầng cơ sở CNTT của một DN.
- Chuẩn bị nhận thức cho đội ngũ nhân viên trước khi triển khai công nghệ. Đây là một động tác chuẩn bị rất quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai các ứng dụng tại các DN. Thái độ và tâm lý tự ti là những yếu tố tác động rất lớn đến việc ứng dụng công nghệ vào tác nghiệp à nhân viên thường “ngại” sử dụng công nghệ à sự thất bại của những nỗ lực phát triển của DN.
- Bây giờ chúng ta mới nói đến trang thiết bị, máy móc, công cụ ứng dụng (phần mềm). Tất cả những yếu tố này phải được hoạch định bằng một chiến lược đầu tư cụ thể, hợp lý. Thông thường, các DN có tâm lý: nhu cầu đến đâu mua sắm đến đó mà thiếu hẳn một chiến lược hoạch định cho mình, điều này dẫn đến việc lãng phí trong mua sắm trang thiết bị à đầu tư không hiệu quả. Do vậy, nói đến việc đầu tư trang thiết bị, các DN cần phải xây dựng một chiến lược đầu tư cho mua sắm trang thiết bị CNTT trong 3 năm, 5 năm hoặc nhiều hơn nữa dựa trên chiến lược phát triển và kinh doanh của DN.
Nguồn nhân lực CNTT trong DN
Từ trước đến nay, chúng ta thường hiểu nguồn nhân lực CNTT là đội ngũ những chuyên gia, kỹ sư CNTT: hệ thống, lập trình viên,… điều này chỉ đúng một nửa đối với hoạt động ở các DN cần ứng dụng CNTT hiện nay. Số lượng các chuyên gia này thường chỉ rất nhỏ so với nguồn nhân lực sử dụng (ứng dụng) hệ thống CNTT vào các tác vụ của hoạt động kinh doanh. Do vậy, nói đến “Nguồn nhân lực CNTT trong DN” chúng ta không thể bỏ qua đối tượng sử dụng này.
Vậy nguồn nhân lực CNTT (theo cách hiệu rộng hơn) đòi hỏi phải biết và có những kỹ năng gì:
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng. Rất có thể có nhiều ý kiến cho rằng, điều này thật buồn cười, một nhân viên trong DN thì phải nắm được công việc của mình. Song, có một thực tế là trong rất nhiều DN hiện nay, còn nhiều nhân viên không nắm rõ nhiệm vụ, chức năng hoặc chuyên môn công tác của mình và điều này thật sự là một nguy cơ rủi ro cho việc áp dụng các ứng dụng CNTT vào các tác nghiệp của DN.
- Nhận thức rõ ràng về vai trò của công nghệ trong quá trình tác nghiệp. Tuy chưa có một thống kê cụ thể, nhưng qua quan sát thực tiễn, nhận thấy rằng, tâm lý “ngại công nghệ” vẫn là một trở ngại lớn đối với tất cả các DN trong quá trình “số hóa” của mình. Do vậy, để hạn chế và dần đi đến xóa bỏ tâm lý này, DN cần phải chuẩn bị một cách chu đáo, rõ ràng bằng các chính sách cụ thể cho đội ngũ nhân viên của mình trong quá trình “số hóa” DN.
- Kỹ năng thao tác (với trình độ sử dụng hệ thống CNTT ở mức cơ bản) cũng là rào cản, là một yếu tố phụ để nảy sinh những tâm lý “ngại công nghệ” nêu trên. Để tránh được điều này, DN một mặt phải phát triển hệ thống đào tạo hỗ trợ nhân viên, một mặt phải xây dựng những chính sách để đốc thúc và khuyến khích đội ngũ nhân viên phát triển kỹ năng cho chính mình.
Mối quan hệ giữa hai yếu tố: cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực CNTT
Với những phân tích ở trên, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng CNTT với nguồn nhân lực CNTT là không thể tách rời. Một hệ thống tốt mà thiếu người vận hành tốt thì hệ thống đó được đầu tư “vô bổ”, ngược lại một đội ngũ nhân lực tốt mà thiếu một hệ thống tốt thì việc sử dụng nguồn nhân lực là không hiệu quả.
Vấn đề quay trở lại là bài toán chiến lược phát triển tổng thể DN. Trong đó, chiến lược CNTT và chiến lược Nhân sự là những chiến lược không thể thiếu đối với những DN nào muốn “số hóa” được thực sự hiệu quả và phù hợp.
Điều kiện cần và đủ để ứng dụng và phát triển CNTT trong DN
Một “chiến lược CNTT” dựa trên “chiến lược hoạt động và phát triển tổng thể” của DN. Vậy, ai sẽ là người xây dựng chiến lược này? Đó là các giám đốc CNTT - CIO.
CIO và vai trò của CIO:
CIO (Chief Information Officer): là một chức danh rất mới mẻ trong sơ đồ tổ chức của các DN Việt Nam.
Có nhiều quan niệm cho rằng, CIO chỉ là một chức danh và phải có trình độ (ở mức độ nào đó) về CNTT. Quan niệm này vẫn còn khiếm khuyết, một CIO không nhất thiết là phải giỏi về một chuyên môn nào đó trong lĩnh vực CNTT, song một CIO phải có ít nhất một tầm nhìn chiến lược về CNTT. Để làm được điều này, đòi hỏi một CIO phải có những kỹ năng:
- Khả năng tư duy chiến lược. CIO cần phải dựa trên chiến lược hoạt động của DN, dựa trên xu thế và những dự báo về phát triển công nghệ để từ đó hoạch định ra được chiến lược CNTT cho DN. Có lẽ từ trước đến giờ, các CIO ở Việt Nam chỉ mới dừng lại là người tổ chức ứng dụng CNTT cho các DN (công việc của một người quản trị hệ thống hơn là một CIO).
- Khả năng đánh giá và phân tích công nghệ.
- Cụ thể hóa được thành một chiến lược CNTT cho DN. Qua quan sát thực tế, các công việc này hiện nay, chưa được đánh giá đúng mức ở các DN; đôi khi, các DN cho rằng chỉ cần lập các dự án đầu tư cụ thể là đã tốt (thông qua việc tư vấn dự án của các nhà cung ứng thiết bị).
Công tác đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực
Công việc này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa CIO và HRM (Human Resource Management – Giám đốc nhân sự). Sự phối hợp cần phải được hình thành qua các kế hoạch cụ thể.
Đồng thời DN cũng cần xây dựng các chính sách khuyến khích và áp đặt cho việc phát triển của đội ngũ: từ việc nhận thức, nâng cao hiểu biết và kỹ năng đối với công nghệ à ứng dụng công nghệ vào tác nghiệp cụ thể.
Môi trường ứng dụng:
Có lẽ, đây là một yêu cầu quá sức đối với các DN. Nhưng nó lại là yếu tố để xác định vai trò và trách nhiệm của Hiệp hội DN trong việc hỗ trợ các DN cập nhật, ứng dụng các hệ thống công nghệ tốt nhất, phù hợp nhất.
Môi trường ứng dụng được thiết lập nhằm mục tiêu hỗ trợ các DN giảm được giá thành đầu tư cho hệ thống và không bị các hãng cung cấp công nghệ chèn ép trong quá trình thiết lập, xây dựng và ứng dụng hệ thống. Phải tạo được môi trường thân thiện với người dùng cũng như DN à tăng tính hiệu quả trong việc ứng dụng công nghệ.
Môi trường ứng dụng bao gồm: “số hóa” các dịch vụ công (E_Goverment), Thương mại Điện tử (E_Commercial),...

Để một môi trường ứng dụng được trở nên hoàn chỉnh và mang lại nhiều lợi ích cho các DN nhất, Hiệp hội DN nói chung và bản thân các DN nói riêng phải có được nhận thức đúng đắn đối với công nghệ: Xem công nghệ là phương tiện để hỗ trợ công việc vận hành hệ thống và tổ chức kinh doanh chứ không phải là một cái gì đó để “khoe” với “bàn dân thiên hạ”; không phải là một “Business PR”./.


Công ty cổ phần đầu tư phát triển và chuyển giao công nghệ Việt Nam
Địa chỉ: P.607-Tòa nhà CT4-1, Đường Phạm Hùng, Hà Nội
Tel: 04 - 2211 8784- 3785 4967 * Fax: 04- 3785 4967 * Email: info@vietec.com.vn
Trang chủ l Liên hệ l Hỏi đáp l Sơ đồ site | Danh bạ web
Copyright by vietec ©2008